
Các bài phát biểu của các quan chức thương mại hàng đầu vào tháng trước nêu bật sự rạn nứt đã mở ra giữa Hoa Kỳ và Úc về chính sách thương mại và những tác động đối với an ninh quốc gia. Hoa Kỳ đang quay lưng lại với toàn cầu hóa và các nguyên tắc thương mại tự do, trong khi Úc tiếp tục coi thương mại và thị trường mở là nguồn gốc của sự thịnh vượng.
Đại diện Thương mại Hoa Kỳ - Katherine Tai lập luận rằng bản chất toàn cầu hóa là “không bền vững”, các quy tắc do Tổ chức Thương mại Thế giới và các hiệp định thương mại tự do song phương đặt ra chỉ mang lại lợi ích cho các tập đoàn lớn nhất và những người giàu có:
Tin tưởng vào thị trường để phân bổ vốn hiệu quả, chúng tôi đã thiết kế các quy tắc thương mại để tự do hóa càng nhiều càng tốt, theo lý thuyết chúng tôi đang tạo điều kiện thuận lợi cho việc tạo ra một thị trường toàn cầu tự do. Chúng tôi nghĩ rằng nền kinh tế vững mạnh sẽ làm tất cả cá nhân hay tổ chức hưởng lợi, tin rằng cách tiếp cận này có thể dẫn đến sự cải thiện dần dần các tiêu chuẩn lao động và bảo vệ môi trường khi các quốc gia trở nên thịnh vượng hơn nhờ gia tăng dòng chảy thương mại.
Chúng tôi đã không tính đến cơ chế để đảm bảo nó hoạt động như vậy. Sau đó, chính hệ thống này đã thúc đẩy để các quốc gia cạnh tranh bằng cách duy trì các tiêu chuẩn thấp hơn, hoặc bằng cách hạ thấp hơn nữa các tiêu chuẩn, khi các công ty tìm cách giảm thiểu chi phí để theo tối đa lợi nhuận. Đây là cuộc đua xuống đáy, nơi mà sự bóc lột được tưởng thưởng và những tiêu chuẩn cao bị loại bỏ để cạnh tranh và tồn tại…
Cách tiếp cận chính sách thương mại truyền thống trước đây của Hoa Kỳ tập trung vào việc mang lại lợi ích cho các công ty lớn nhất của chúng tôi, trên lý thuyết là những lợi ích đó nhất thiết sẽ đến được với người lao động, doanh nghiệp nhỏ và cộng đồng. Nhưng theo thời gian, những gì chúng ta thấy là những lợi ích này không chảy nhiều xuống các tầng lớp như trên.
Ngược lại, bài phát biểu của Bộ trưởng Thương mại Úc - Don Farrell trước Báo chí Quốc gia, thể hiện sự bảo vệ mạnh mẽ đối với khuôn khổ thương mại hiện tại:
Chúng tôi cam kết thực hiện thương mại tự do, công bằng và cởi mở, trong đó các quy tắc của trò chơi được thực hiện và tôn trọng …
Nhìn chung, cam kết thương mại là rất có ý nghĩa. Nó là một đòn bẩy quan trọng của nền kinh tế Úc. Lợi ích của nó chảy vào tất cả các khía cạnh của cuộc sống hàng ngày. Hoạt động thương mại càng tăng có nghĩa là nhiều việc làm được trả lương cao hơn, thu nhập quốc gia cao hơn và nhiều cơ hội hơn cho doanh nghiệp và người lao động.
Trong một môi trường toàn cầu đang phát triển và thường xuyên đầy thách thức, thương mại giúp tạo ra sức mạnh kinh tế và khả năng phục hồi vốn là trọng tâm của sức mạnh quốc gia bên cạnh quốc phòng và ngoại giao.
Farrell nhấn mạnh tầm quan trọng của việc khôi phục khả năng giải quyết các tranh chấp thương mại của WTO, vốn đã bị cản trở bởi việc Hoa Kỳ từ chối phê chuẩn các thẩm phán mới cho hội đồng phúc thẩm của tổ chức này. “Chúng tôi cần các tổ chức như WTO hoạt động. Các quy tắc của WTO củng cố hệ thống thương mại toàn cầu, một hệ thống hoàn toàn cơ bản cho sự thịnh vượng và an ninh của Úc. Một hệ thống quan trọng đối với sự phát triển và ổn định kinh tế của khu vực chúng ta,” ông nói.
Bộ trưởng Quốc phòng Úc- Richard Marles cũng nhấn mạnh tầm quan trọng của các quy tắc quốc tế đã được thống nhất, bao gồm cả những quy tắc về tự do hàng hải và hàng không. “Thương mại chiếm tỷ trọng lớn hơn nhiều trong nền kinh tế và của cải quốc gia của chúng ta (so với các nước khác) … và điều đó có nghĩa là an ninh quốc gia của chúng ta … được xác định bằng việc duy trì các quy tắc giao thông và bằng an ninh tập thể của khu vực”, ông đã phát biểu với Nhật báo Sydney Morning Herald sau thông báo AUKUS vào tháng 3.
Ngược lại, các quan chức Hoa Kỳ tin rằng “trật tự dựa trên luật lệ” là một điều hão huyền. Trong một bài phát biểu quan trọng về chính sách kinh tế vào tháng 4, Cố vấn An ninh Quốc gia Hoa Kỳ - Jake Sullivan cho biết:
Phần lớn chính sách kinh tế quốc tế trong vài thập kỷ qua đã dựa trên tiền đề rằng hội nhập kinh tế sẽ làm cho các quốc gia có trách nhiệm và cởi mở hơn, và rằng trật tự toàn cầu sẽ hòa bình và hợp tác hơn - việc đưa các quốc gia vào trật tự dựa trên luật lệ sẽ khuyến khích họ phải tuân thủ các quy tắc của nó.
Thực tế không như vậy.
Sullivan lập luận rằng hàng thập kỷ tự do hóa đã cho phép hình thành các lỗ hổng chuỗi cung ứng “nguy hiểm” có thể bị khai thác.
Giá trị của các hiệp định thương mại song phương và khu vực là một điểm khác biệt đặc biệt lớn. Chính phủ Úc gần đây đã ký kết các hiệp định thương mại với Ấn Độ và Vương quốc Anh và đang tiến tới một thỏa thuận quan trọng tiềm năng với EU. Hiệp định thương mại ASEAN–Úc–New Zealand cũng đã được nâng cấp, với các chương mới về mua sắm của chính phủ, doanh nghiệp nhỏ và phát triển bền vững. Điều này tiếp tục cách tiếp cận của chính phủ trước đó, vốn đã ký các thỏa thuận với các đối tác thương mại chính, bao gồm cả Trung Quốc, cũng như các hiệp định thương mại tự do khu vực.
“Những thỏa thuận đó có nghĩa là người Úc có thể chọn từ nhiều sản phẩm hơn với giá tốt hơn,” Farrell nói.
Tuy nhiên, phá vỡ chính sách kinh tế vốn được điều hành bởi Hoa Kỳ kể từ chính quyền của Ronald Reagan vào những năm 1980, Katherine Tai nói rằng thật sai lầm khi ưu tiên người tiêu dùng trong cả chính sách thương mại và cạnh tranh:
Chính sách thương mại đặt người lao động làm trung tâm phản ánh thực tế rằng người tiêu dùng được hưởng giá thấp của hàng hóa nhập khẩu dẫn đến người lao động phải chịu áp lực đi xuống do cạnh tranh với người lao động ở các nơi khác trên thế giới đang phải làm việc cực nhọc trong các điều kiện bóc lột.
Tương tự như vậy, việc ưu tiên và theo đuổi tiêu chuẩn phúc lợi người tiêu dùng trong chính sách cạnh tranh đã dẫn đến sự củng cố và chiếm ưu thế không kiểm soát trên thị trường nội địa, điều này đã kìm hãm sự cạnh tranh và làm giảm quyền tự do kinh tế cho công dân và người lao động.
Giải thích về việc chính quyền bác bỏ các hiệp định thương mại song phương và khu vực, Katherine Tai nói:
Nếu chúng ta xem xét tác dụng của những thỏa thuận đó, chúng ta sẽ thấy rằng những cách thức mà thỏa thuận góp phần gây ra chính những vấn đề mà chúng ta hiện đang cố gắng giải quyết.
Các quy tắc về chuỗi cung ứng công nghiệp trong các hiệp định thương mại tự do truyền thống đều dựa trên cùng một tiền đề về hiệu quả và chi phí thấp.
Do đó, nhiều quốc gia được phép tham gia thảo luận các nội dung quan trọng, thậm chí các quốc gia không phải là các bên tham gia thỏa thuận—những đối tượng tự do, những người chưa ký kết bất kỳ nghĩa vụ nào khác trong thỏa thuận, như tiêu chuẩn lao động và môi trường. Điều đó có nghĩa là những quy tắc này mang lại lợi ích cho chính những quốc gia đã sử dụng cạnh tranh không lành mạnh để trở thành trung tâm sản xuất.
Sự khác biệt trong cách tiếp cận phần nào phản ánh thực tế rằng Hoa Kỳ là một siêu cường kinh tế có thể đưa ra các điều khoản trong cam kết quốc tế của mình. Ngược lại, Úc đứng thứ 12 trong số các nền kinh tế thế giới và phụ thuộc vào các tổ chức và thỏa thuận quốc tế để đảm bảo thị trường của mình.
So với hầu hết các quốc gia khác, Úc thu được nhiều lợi nhuận từ toàn cầu hóa hơn, bởi vì mục tiêu thương mại hóa đã mở ra các nguồn tài nguyên của Úc. Trong những năm gần đây, tỷ giá thương mại của Úc—giá xuất khẩu so với giá nhập khẩu—đã ở mức cao nhất trong lịch sử quốc gia.
Úc đã chứng kiến sự suy giảm nghiêm trọng hơn trong lĩnh vực sản xuất, vốn đã giảm từ 11% xuống chỉ còn 5% GDP trong hai thập kỷ qua. Trong khi ở Hoa Kỳ, mức giảm chỉ từ 13% xuống 11%. Sự tăng trưởng của các nguồn tài nguyên, cũng như xuất khẩu dịch vụ như giáo dục và du lịch, đã mang lại sự thúc đẩy cho sự thịnh vượng vốn không thể thực hiện được từ ngành sản xuất không có tính cạnh tranh quốc tế ở Úc. Mặt khác, Hoa Kỳ đấu tranh với quan niệm rằng ngành sản xuất của họ so với bất kỳ nơi đâu là tốt nhất thế giới.
Rủi ro đối với Úc là các quy tắc thương mại không còn được áp dụng và thương mại quốc tế trở thành một môi trường cạnh tranh hơn trong đó quốc gia mạnh luôn có quyền lợi. Nền kinh tế Úc từng trải qua những ảnh hưởng không đáng kể trong các thỏa thuận thương mại quốc tế với sự thách thức của Trung Quốc đối với cả WTO và Hiệp định Thương mại Tự do Trung Quốc-Úc trong chiến dịch cưỡng chế kinh tế. Cách tiếp cận của Hoa Kỳ cũng báo trước sự gia tăng của chủ nghĩa bảo hộ và các rào cản thương mại.
Ngoài ra còn có một rủi ro đối với Hoa Kỳ là việc nước này miễn cưỡng tham gia các hiệp định thương mại sẽ khiến các quốc gia, đặc biệt là ở châu Á, nghiêng về phía Trung Quốc nhiều hơn.
Nguồn: The Strategist
Từ khóa: Hòa Kỳ, Úc, FTA
Các tin khác
- Trung Quốc đưa cuộc chiến thương mại sang châu Âu, nhắm mục tiêu vào quá trình chuyển đổi xanh - 18/07/2023
- UNCTAD: Nhiên liệu không phát thải có thể làm tăng chi phí thương mại hàng hải toàn cầu - 18/07/2023
- Châu Á bắt đầu tăng trưởng vượt trội trở lại - 18/07/2023
- Thương mại với EU tăng trưởng tốt - 18/07/2023
- Cuộc chiến chống lạm phát ở Mỹ và châu Âu chưa thể kết thúc - 17/07/2023






















