
Các khoản trợ cấp, trừng phạt và kiểm soát xuất khẩu lớn đang bóp méo thương mại toàn cầu, tạo ra sự bất ổn, tốn kém và tăng phí bảo hiểm rủi ro đầu tư.
Dòng chảy thương mại và đầu tư toàn cầu ngày càng bị ảnh hưởng bởi các chính sách đơn phương, từ kiểm soát xuất khẩu đến trợ cấp công nghiệp. Những chính sách như vậy được các cường quốc thương mại lớn thực hiện, thường được thúc đẩy bởi các mục tiêu phi kinh tế như bảo vệ an ninh quốc gia và kinh tế, giảm sự nóng lên toàn cầu và bảo vệ các giá trị xã hội.
Những chính sách này tạo ra sự bất ổn, tăng phí bảo hiểm rủi ro đầu tư và bóp méo thương mại toàn cầu. Các thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới (WHO) có thể biện minh cho hành động đơn phương nhằm đạt được các mục tiêu phi kinh tế bằng cách viện dẫn các ngoại lệ chung hoặc thiết yếu về an ninh của WTO.
Nhưng việc sử dụng rộng rãi các điều khoản này tạo thành mối đe dọa lớn đối với trật tự thương mại dựa trên luật lệ. Để các quy tắc có thể hoạt động được, cần phải có sự chấp nhận chung về các chuẩn mực đúng đắn. Những chuẩn mực đó bị vi phạm khi đạo đức công cộng hoặc an ninh kinh tế trở thành vỏ bọc cho các chính sách thương mại mang tính phân biệt đối xử đơn phương.
Có những hướng đi nào cho hợp tác thương mại đa phương? Sự xói mòn lòng tin giữa các cường quốc kinh tế lớn, thể hiện qua việc họ ngày càng sẵn sàng “vũ khí hóa” chính sách thương mại, là một hạn chế lớn trong việc khởi động các cuộc đàm phán liên quan tới các quy tắc mới trong thương mại.
Thay vào đó, quyền tự chủ chiến lược, an ninh kinh tế và các mục tiêu phi kinh tế khác thúc đẩy lời kêu gọi hợp tác giữa các quốc gia có cùng giá trị và hệ thống kinh tế - chính trị.
Để WTO tiếp tục phù hợp trong thế kỷ 21, các thành viên của khối phải thừa nhận rằng thương mại quốc tế ngày càng gắn liền với sự cạnh tranh, hợp tác và tranh chấp mang tính hệ thống vì các mục tiêu phi kinh tế - mà thương mại được coi là công cụ dẫn đến thành công về mặt chính sách.
Việc sử dụng các thủ tục giải quyết tranh chấp, đặc biệt trong trường hợp viện dẫn các lợi ích an ninh thiết yếu, có thể vừa phản tác dụng vừa không hiệu quả. Thay vào đó, những nỗ lực nhằm bảo vệ một cơ chế thương mại toàn cầu mở cửa nên tập trung vào các quá trình mà thông qua đó các thành viên WTO tham gia đối thoại chính sách.
Các khuôn khổ được hỗ trợ về mặt thể chế phải cho phép thảo luận dựa trên cơ sở ngang hàng để đánh giá hiệu lực và hiệu quả của việc đơn phương theo đuổi các mục tiêu phi kinh tế và tác động lan tỏa liên quan của chúng, có thể là tích cực hoặc tiêu cực.
Cuộc đối thoại như vậy là cần thiết để cung cấp thông tin về sự hợp tác đa phương, nhằm giải quyết các mối đe dọa lớn và các vấn đề hành động tập thể mà cộng đồng quốc tế đang phải đối mặt.
Không cần thiết phải ngăn cản sự hợp tác nhằm giảm bớt hoặc hạn chế sự lan tỏa chính sách, liên quan tới những khác biệt mang tính hệ thống và cạnh tranh địa chính trị. Chính quyền của Tổng thống Mỹ - Joe Biden đã bày tỏ quan điểm Mỹ không quan tâm đến việc đàm phán các lĩnh vực thương mại ưu đãi truyền thống, tập trung vào việc cắt giảm thuế quan và các hàng rào phi thuế quan đáp trả đối với khối lượng thương mại đáng kể.
Thay vào đó, Mỹ đang theo đuổi các khuôn khổ và hợp tác theo từng vấn đề cụ thể để điều phối các chính sách, chẳng hạn như thống nhất các thông lệ pháp lý về thương mại kỹ thuật số và quản lý chuỗi cung ứng.
Một sáng kiến của Mỹ là Khuôn khổ Kinh tế Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương vì thịnh vượng (IPEF), nhằm thúc đẩy tự do hóa thương mại, thương mại kỹ thuật số và các luồng dữ liệu xuyên biên giới với châu Á. Những thỏa thuận như vậy có ý nghĩa đối với hệ thống thương mại trong chừng mực chúng đóng vai trò là khuôn khổ cho sự hợp tác giữa các nhóm thành viên WTO.
Các thành viên này cùng tạo điều kiện cho thương mại và đầu tư dựa trên các giá trị chung, bao gồm việc thông qua các yêu cầu sản xuất liên quan đến lao động, nhân quyền và tính bền vững của môi trường.
Nếu các thỏa thuận hợp tác pháp lý liên quan mở cửa cho bất kỳ nền kinh tế nào quan tâm tham gia, với các lợi ích được mở rộng có điều kiện sau khi thực hiện các tiêu chuẩn hoặc nguyên tắc quản lý đã thống nhất, thì chúng có thể hỗ trợ quá trình đa phương hóa dần dần.
Thay vào đó, nếu hợp tác pháp lý được thiết kế để tạo thành các thỏa thuận độc quyền, nó có thể làm phân mảnh hệ thống thương mại toàn cầu. Các hiệp định đa phương mở theo từng lĩnh vực cụ thể mang lại triển vọng đa phương hóa tốt hơn so với các hiệp định thương mại ưu đãi.
Hợp tác phải bắt nguồn từ sự hiểu biết về mục tiêu giữa các bên tham gia và mối liên hệ giữa lợi ích của họ với các cam kết trong nước và quốc tế của các nước liên quan.
Cải cách WTO không cần thiết cho các cuộc thảo luận giữa các thành viên về các mục tiêu phi kinh tế, nhưng phải có sự sẵn sàng về mặt chính trị để vượt ra ngoài khuôn khổ “bánh mì và bơ” của WTO – tổ chức này nên đàm phán chính sách thương mại mà không xem xét lý do sử dụng các công cụ thương mại cụ thể.
Các thành viên WTO đặt điều kiện tiếp cận thị trường của họ dựa trên việc đáp ứng các yêu cầu sản xuất cụ thể để đạt được mục tiêu phi kinh tế vừa có lợi cho các quốc gia khác. Trong nhiều trường hợp, các thành viên WTO có thể chia sẻ mục tiêu phi kinh tế, tạo cơ hội cho đối thoại và thảo luận về các hành động chung có thể thực hiện được.
Hợp tác có thể dưới hình thức phối hợp giữa các nền kinh tế có cùng chí hướng, nhưng tốt hơn là nên đưa ra một khuôn khổ khuyến khích hình thành các nhóm kinh tế được WTO phê chuẩn.
Điều này sẽ đảm bảo thực hiện hoạt động giám sát, minh bạch và phân tích tốt hơn tác động của các mối liên kết khách quan thương mại-phi kinh tế mà các nhóm kinh tế theo đuổi. Điều này sẽ mang lại lợi ích cho các khu vực pháp lý theo đuổi hành động chung bằng cách giúp họ giám sát việc thực hiện và hiểu rõ liệu các biện pháp can thiệp có hiệu quả hay không.
Nó sẽ mang lại lợi ích cho những người không tham gia nhóm kinh tế bằng cách cung cấp một cơ chế, thể chế tạo ra thông tin về lợi ích của việc tham gia nhóm, mức độ và tác động của các tác động bên ngoài của nhóm kinh tế và một kênh để thu hút các thành viên nhóm kinh tế.
Có thể thu được nhiều lợi ích từ việc hợp tác vì các mục tiêu phi kinh tế của các lợi ích chung. Liên minh từ lâu đã là một hình thức hợp tác quốc tế và có thể sẽ xuất hiện nhiều hơn trong tương lai nhằm hỗ trợ hội nhập sâu hơn giữa các nền kinh tế có cùng chí hướng.
Các cuộc thảo luận cải cách WTO nên tập trung vào việc phát triển một khuôn khổ đa phương, nhằm hướng dẫn việc hình thành các nhóm kinh tế có cùng chí hướng được thúc đẩy bởi các mục tiêu phi kinh tế. Việc tạo điều kiện thuận lợi cho các thành viên WTO giám sát các sáng kiến như vậy sẽ giúp các thành viên nhóm kinh tế thực hiện các chính sách hiệu quả.
Các nhóm kinh tế cũng sẽ mang lại lợi ích cho những người không tham gia bằng cách giảm các tác động bất lợi tiềm ẩn đối với hệ thống giao dịch, bằng cách thiết lập các nguyên tắc mà các nhóm kinh tế phải tuân thủ, bao gồm cả việc mở cửa cho bất kỳ thành viên nào sẵn sàng tham gia.
Các nhóm kinh tế trong WTO sẽ cung cấp cho khối cơ sở thể chế đa phương, thúc đẩy tính minh bạch và hỗ trợ đánh giá công bằng về việc sử dụng các công cụ chính sách thương mại được chứng minh bằng các mục tiêu phi kinh tế.
Nguồn: Asiatimes
Từ khóa: WTO, chính sách, thương mại toàn cầu
Các tin khác
- Hiệp định Thương mại Australia-Ấn Độ: sự khởi đầu của những điều mới mẻ hơn cho Ấn Độ? - 10/10/2023
- Ấn Độ kêu gọi các thành viên WTO bắt đầu đàm phán dựa trên văn bản để tìm giải pháp lâu dài cho vấn đề dự trữ lương thực công - 10/10/2023
- Thu hút FDI: Tiềm năng lớn tạo đột phá trong phát triển kinh tế - 10/10/2023
- Những xu hướng mới trong phát triển kinh tế ở châu Á - 10/10/2023
- Điều gì đang ảnh hưởng đến nỗ lực xuất khẩu của Ấn Độ - 10/10/2023






















