JSN_TPLFW_TOGGLE_MENU
Phân tích - Bình luậnHội nhập kinh tế quốc tếBRI’s ‘Ngoại giao bẫy nợ’: Thực tế hay tin đồn?

BRI’s ‘Ngoại giao bẫy nợ’: Thực tế hay tin đồn?

ngoại giao

Một số nhà bình luận cho rằng Trung Quốc cố tình theo đuổi “chính sách ngoại giao bẫy nợ” để gây ảnh hưởng chính trị quá mức lên các nước nhỏ đang vay vốn của Trung Quốc thông qua khuôn khổ Sáng kiến ​​Vành đai và Con đường. Cuốn sách gần đây của các tác giả Pradumna B. Rana và Ji Xianbai (2020) sau khi tiến hành một cuộc khảo sát các bên liên quan đã đưa ra một số nhận định xung quanh lý thuyết nay.

Nhà địa chiến lược người Ấn Độ, Brahma Chellaney, được cho là người đã tạo ra thuật ngữ “Ngoại giao bẫy nợ (DTD)” vào năm 2017. Chellaney cho rằng mục đích của Sáng kiến ​​Vành đai và Con đường (BRI) của Trung Quốc là chất nợ lên vai các quốc gia nhỏ để các nước này không còn hy vọng có thể trả được nợ, từ đó, các nước này sẽ “nằm trong sự thao túng của Trung Quốc”.

Sau đó, nhiều nhà bình luận và nhà phân tích khác cũng đã đưa ra quan điểm tương tự sau khi xem xét một số vụ việc và một số dự án trong BRI. Lý thuyết ngoại giao bẫy nợ từ đó mà đã trở nên phổ biến.

Việc sử dụng lý thuyết ngoại giao bẫy nợ của Các nhà lãnh đạo thế giới

Thuật ngữ ngoại giao bẫy nợ cũng đã được các nhà lãnh đạo trên thế giới sử dụng rộng rãi. Ví dụ, vào năm 2018, Phó Tổng thống Hoa Kỳ, Mike Pence, đã đề cập đến sự cấp thiết phải cung cấp cho “các quốc gia khác một giải pháp minh bạch và công bằng, thay thế cho chính sách ngoại giao bẫy nợ của Trung Quốc”.

Một nhóm lưỡng đảng gồm 16 thượng nghị sĩ Hoa Kỳ vào tháng 8 năm 2018 cũng bày tỏ lo ngại về Sáng kiến BRI, đề cập đến “sự nguy hiểm của chính sách ngoại giao bẫy nợ của Trung Quốc”.

Các nghị sĩ này lưu ý rằng Mỹ nên khẩn trương chống lại những nỗ lực thao túng các nước nhỏ của Trung Quốc để đạt được các mục tiêu địa chính trị của mình. Bộ Tứ Quad (Diễn đàn đối thoại an ninh bốn bên) gồm Nhật Bản, Australia, Ấn Độ và Hoa Kỳ cũng thường xuyên sử dụng thuật ngữ này.

Một bài nghiên cứu gần đây của Lee Jones và Shahar Hameiri từ Chatham House, một tổ chức tư vấn về các vấn đề quốc tế có trụ sở tại London, đưa ra một phản biện mạnh mẽ đối với luận điểm ngoại giao bẫy nợ. Jones và Hameiri cho rằng BRI miêu tả một thực tế vừa lộn xộn vừa nhiều sắc thái.

Họ nhận thấy rằng đôi khi các dự án gây tranh cãi trong BRI được chính phủ nước tiếp nhận khởi xướng, và các vấn đề liên quan đến khoản vay chủ yếu phát sinh từ hành vi sai trái của giới tinh hoa địa phương.

Tuy nhiên, kết luận của họ chỉ dựa trên hai trường hợp là Sri Lanka và Malaysia, trong khi có đến hơn 165 quốc gia và tổ chức quốc tế đã ký biên bản ghi nhớ BRI (MOU) hoặc các thỏa thuận hợp tác khác với Trung Quốc.

Ngoại giao bẫy nợ chỉ là truyền thuyết?

Trong cuốn sách gần đây mang tên ‘Sáng kiến ​​Vành đai và Con đường của Trung Quốc: Tác động đến châu Á và Chương trình nghị sự chính sách’, các tác giả Pradumna B. Rana và Ji Xianbai đã tiến hành một cuộc khảo sát trực tuyến đối với những người dẫn dắt dư luận (người dẫn dắt dư luận được định nghĩa là các nhà hoạch định chính sách, học giả, đại diện các doanh nghiệp, và giới truyền thông) từ nhiều quốc gia có liên quan đến BRI – đó là 26 nước châu Á đã ký Biên bản ghi nhớ BRI với Trung Quốc.

Sự tham gia và nhận thức của các bên liên quan rất quan trọng đối với sự thành công của một dự án BRI. Hơn nữa, quốc gia có liên quan là bên chịu trách nhiệm cuối cùng trong việc hoàn trả các khoản vay BRI cho Trung Quốc.

Nhật Bản, Úc và Ấn Độ đã bị loại khỏi cuộc khảo sát vì họ chưa ký Biên bản ghi nhớ BRI. Trung Quốc cũng bị loại vì những lý do rõ ràng. Hơn 1200 người dẫn dắt dư luận ​​đã trả lời bảng câu hỏi khảo sát. Các tác giả cũng mô phỏng một mô hình cân bằng tổng có thể tính toán được và thực hiện các nghiên cứu thực tế trong khu vực để đánh giá các tác động kinh tế khác của BRI.

Những phát hiện chính trong cuộc khảo sát trên đã bác bỏ lý thuyết ngoại giao bẫy nợ, dựa trên ba cơ sở sau:

• Thứ nhất, sau khi cân nhắc cả lợi ích và chi phí của BRI, 41,6% số người được hỏi trong cuộc khảo sát tin rằng BRI đem lại lợi ích ròng cho quốc gia của họ, trong khi chỉ 14,8% cho rằng BRI đem lại thiệt hại ròng, và 40,6% còn lại cho rằng còn quá sớm để kết luận.

Những người ủng hộ mạnh mẽ nhất cho BRI đến từ Bangladesh (64,5%), Pakistan (59,7%) và Nepal (58,8%), và những người ít ủng hộ BRI nhất đến từ Philippines.

Người được khảo sát ở Hàn Quốc, Myanmar và Việt Nam có lập trường trung lập hơn khi cho rằng còn quá sớm để xác định liệu BRI là cơ hội hay thách thức cho quốc gia của họ.

• Thứ hai, hơn 42% số người trả lời cuộc khảo sát đã bác bỏ ý kiến cho rằng lý thuyết ngoại giao bẫy nợ chỉ là “tin đồn”, nhưng đáng lưu ý là có đến 30,6% người được hỏi có suy nghĩ khác và 27,3% người vẫn chưa quyết định. Một số người được hỏi lưu ý rằng các yếu tố trong nước liên quan đến chính phủ (chẳng hạn như tham nhũng và sự thiếu thận trọng khi vay mượn) là nguyên nhân chính làm tăng dư nợ của chính phủ, hơn là vì các khoản cho vay của Trung Quốc.

Ví dụ, một người được khảo sát ​​nhận xét rằng “Ngoại giao bẫy nợ xảy ra khi quản trị yếu kém kết hợp với vay nợ quốc tế”. Những người khác thì cho rằng hệ thống các tổ chức tài chính của Trung Quốc quá phân mảnh và có tính phối hợp kém, và vì vậy, hệ thống này không thể theo đuổi các mục tiêu chiến lược cụ thể, chẳng hạn như gài bẫy nợ các quốc gia.

• Thứ ba, sử dụng phương pháp luận được phát triển bởi Trung tâm Phát triển Toàn cầu ở Washington DC đó là tập trung vào tỷ lệ nợ công/GDP (nợ công bao gồm các khoản nợ của chính phủ và các khoản nợ được chính phủ đảm bảo), các tác giả nhận thấy rằng ba trong số năm quốc gia Nam Á là hiện đang phải đối mặt với tình trạng nợ nần chồng chất. Đó là Sri Lanka, Pakistan và Maldives.

Tuy nhiên, Sri Lanka nợ Nhật Bản nhiều hơn Trung Quốc (khoản nợ của Trung Quốc chỉ chiếm 3%). Nước này cũng vay nhiều từ các thị trường vốn quốc tế (54%).

Tương tự, Pakistan nợ các ngân hàng phát triển đa phương và các chủ nợ Hồi giáo (34%) nhiều hơn Trung Quốc (chỉ 6%).

Maldives dường như là một ngoại lệ, khi nợ từ Trung Quốc chiếm tỷ lệ cao hơn, nhưng quốc gia này đã có nguy cơ phá sản cao từ ít nhất 10 năm trước, dù có hay không có BRI.

COVID-19 và tương lai của BRI

Tóm lại, trái ngược với quan điểm của nhiều nhà bình luận và nhà phân tích, cuốn sách gần đây của nhóm tác giả Rana và Xianbai cho thấy rằng mặc dù việc triển khai BRI vấp phải nhiều vấn đề, nhưng lý thuyết ngoại giao bẫy nợ là chuyện hoang đường hơn là một thực tế. Hiện nay, do đại dịch đang diễn ra, nhiều dự án BRI đang bị tạm hoãn và một số nước tham gia BRI đang gặp khó khăn trong việc hoàn thành nghĩa vụ nợ của họ đối với Trung Quốc. Trung Quốc đang giúp các nước này cơ cấu lại nợ, bao gồm cả việc xóa một phần nợ.

Trung Quốc sẽ không để BRI sụp đổ, vì dự án này - được Chủ tịch Tập Cận Bình gọi là “dự án thế kỷ” - đánh dấu sự tái xuất của Trung Quốc trên trường quốc tế và phục vụ cho mục đích cuối cùng của Trung Quốc đó là vươn lên trở thành nền kinh tế số một thế giới. Sự thành công của BRI cũng có thể là một tin vui cho toàn châu Á. BRI có tiềm năng chuyển đổi “Châu Á Hàng hải” thành “Châu Á Lục địa”, báo hiệu “Thời kỳ Phục hưng của Châu Á”, biến lục địa này trở thành trung tâm kinh tế và chính trị của toàn cầu.

Pradumna B. Rana, Phó Giáo sư thỉnh giảng tại Trung tâm Nghiên cứu Đa phương thuộc Trường RSIS, Đại học Kỹ thuật Nanyang, Singapore; Tiến sĩ Ji Xianbai, Giáo sư trợ lí tại Trường Nghiên cứu Quốc tế thuộc Đại học Nhân Dân, Trung Quốc.

Nguồn: RSIS

Từ khóa: BRI, COVID-19, ngoại giao bẫy nợ, cơ cấu lại nợ, nền kinh tế số 1 thế giới, trung tâm kinh tế

Chuyên mục RCEP

JSN_TPLFW_TOGGLE_MENU

Phân tích - Bình luận

JSN_TPLFW_TOGGLE_MENU

Thư viện hội nhập

thu vien


phong ve thuong mai

Video

Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field

Liên kết

 

Lượt truy cập

008795241
Go to top