JSN_TPLFW_TOGGLE_MENU
Phân tích - Bình luậnHội nhập kinh tế quốc tếToàn cầu hóa không cần khôi phục, mà phải xây dựng lại

Toàn cầu hóa không cần khôi phục, mà phải xây dựng lại

20201102000867 0

Nếu Donald Trump tái đắc cử, ông sẽ hoàn thành mục tiêu phá bỏ hệ thống kinh tế quốc tế thời hậu chiến. Chủ nghĩa đơn phương hiếu chiến của Trump, cùng với những sáng kiến thương mại hỗn loạn, bài trừ hợp tác đa phương, đi ngược lại ý tưởng về xây dựng một cộng đồng toàn cầu, sẽ phá vỡ sự ổn định của mạng lưới các quy tắc và thể chế nên tảng của toàn cầu hóa. Nhưng liệu một chiến thắng cho Joe Biden có dẫn đến sự khôi phục của hệ thống toàn cầu này – và nếu vậy, nó sẽ trở nên như thế nào? Đây là một câu hỏi khó trả lời hơn nhiều.

Bất kể là tại Mỹ hay trên toàn cầu, sẽ không thiếu những người háo hức muốn loại bỏ di sản của Trump. Nhưng nếu chỉ khôi phục mọi thứ về hiện trạng trước khi Trump lên nắm quyền thì sẽ không giải quyết được những vấn đề lớn, vốn là một phần là nguyên nhân dẫn đến sự đắc cử của Trump năm 2016. Chuyên gia Adam Posen của Viện Peterson chỉ ra rằng, nhiệm vụ tiếp theo không chỉ là khôi phục, mà phải xây dựng lại hệ thống toàn cầu. Chúng ta nên bắt đầu bằng việc xác định rõ ràng các vấn đề mà hệ thống này cần phải giải quyết.

Ưu tiên hàng đầu là phải tiến tới xây dựng một hệ thống thiên về lợi ích chung. Sau Thế chiến II, vẫn dễ hiểu khi các nhà hoạch định chính sách giai đoạn này chưa quan tâm đến việc bảo tồn những giá trị toàn cầu như cân bằng khí hậu hay đa dạng sinh học. Và (thật khó hiểu khi) vấn đề này vẫn chỉ là ưu tiên thứ hai trong quá trình đổi mới hệ thống thời hậu Chiến tranh Lạnh. Các nhà hoạch định chính sách chỉ tập trung vào các liên kết hữu hình trong nền thương mại và dòng chảy vốn, thay vì các liên kết vô hình đang ràng buộc chúng ta vào một số phận chung. Điều này giải thích tại sao các quy tắc và thể chế để giám sát các liên kết vô hình này còn rất yếu.

Ý định của Biden về việc tái gia nhập vào Thỏa thuận Khí hậu Paris 2015 là đáng được hoan nghênh, nhưng điều này cũng không thể biến hiệp ước thành một chương trình đầy tham vọng, có thể thực thi. Thói quen đùn đẩy gánh nặng cho nhau giữa vô vàn các quốc gia trong sân chơi toàn cầu khiến việc bảo tồn các giá trị chung toàn cầu trở nên vô cùng khó khăn. Ngay cả trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe, các giải pháp cho đến hiện tại vẫn chưa đáp ứng được thách thức đặt ra.

Chống biến đổi khí hậu là vấn đề cấp bách. Nếu không có một sự đồng thuận chung toàn cầu, mọi nỗ lực của chúng ta sẽ phụ thuộc vào một liên minh mà trong đó các nước thành viên chỉ tập trung vào những mục tiêu cứng nhắc và những cơ chế thương mại với các nước nghèo. Việc thực thi các chính sách chống biến đổi khí hậu sẽ gặp rất nhiều khó khăn. Muốn đạt được thành công, các bên sẽ phải thỏa thuận xem những biện pháp thương mại nào là phù hợp, và những biện pháp nào là chỉ là biến thế của chủ nghĩa bảo hộ. Đây là một mục tiêu khó khăn. Liên minh Châu Âu đang là người tiên phong trong ý định thiết lập một cơ chế điều chỉnh hoạt động giao thương xuyên biên giới.

Ưu tiên thứ hai là khiến hệ thống kinh tế toàn cầu càng ít bị ảnh hưởng bởi sự cạnh tranh càng tốt. Bất kể ai là người chiến thắng trong kỳ bầu cử tổng thống Mỹ vào ngày 3/11, cuộc chiến quyền lực giữa Mỹ và Trung Quốc sẽ tiếp tục chi phối các mối quan hệ quốc tế. Nhưng nó không giống vời giai đoạn Chiến tranh Lạnh, vì hai cường quốc hiện tại là đối tác kinh tế quan trọng của nhau. Trong khi tỷ lệ hàng nhập khẩu từ Mỹ vào Liên Bang Xô Viết chưa bao giờ vượt quá 1%, thì đối với Trung Quốc hiện tại là 18%. Những nhà bảo thủ ủng hộ Mỹ tách khỏi Trung Quốc còn nhìn nhận một cách sai lầm rằng sự phát triển của Trung Quốc là một mối đe dọa an ninh quốc gia đối với Mỹ, và họ muốn chấm dứt sự phụ thuộc lẫn nhau này để ngăn chặn sự trổi dậy của nền kinh tế Trung Quốc. Tuy nhiên, Nicholas Lardy của Viện Peterson nhận định rằng, chính sách chia tách toàn diện với Trung Quốc sẽ là “một chính sách lợi ít, hại nhiều”.

Vậy thì, câu hỏi đặt ra là làm thế nào để xác định đúng thực trạng căng thẳng địa chính trị, trong khi vẫn kiềm chế được tác động của nó lên quan hệ kinh tế toàn cầu. Một sự kiện tương đồng với tình hình hiện tại, không phải là cuộc Chiến tranh Lạnh, mà mà quan hệ cạnh tranh giữa Anh và Đức giai đoạn trước 1914, trong bối cảnh của một cuộc toàn cầu hóa lớn đầu tiên. Các chuyên gia thời đó cho rằng quan hệ kinh tế chắc chẽ giữa hai nước khiến chiến tranh không thể xảy ra. Và điều này đã được chứng minh là sai. Nhưng chỉ cần các nước tự kiềm chế không tham gia vào một cuộc chiến tranh thực sự, một hệ thống thống đa phương mạnh mẽ có thể giúp ngăn cản họ tiến hành chiến tranh thông qua các hình thức khác.

Châu Âu hiện là người đứng ngoài có trọng lượng lớn nhất. Khối này lo ngại rủi ro hứng chịu thiệt hại liên đới từ cuộc đụng độ giữa hai gã khổng lồ của thế giới. Và cả hai cũng đang có ý định bắt nạt khối này. Nhưng EU không hề là bất lực. Họ cần đứng lên bảo vệ trật tự kinh tế quốc tế, và dẫn đầu cuộc chiến chống lại sự lũng đoạn của Mỹ và Trung Quốc. Như Hội đồng Châu Âu về Quan hệ Đối ngoại đã lập luận trong một báo cáo gần đây, khối này nên bắt đầu với việc tự trang bị để chống lại những ép buộc kinh tế từ bên ngoài.

Ưu tiên thứ ba là tăng cường các biện pháp bảo vệ cho người lao động và công dân. Những sự kiện như tranh chấp thương mại Mỹ-Trung, sự gia tăng bất bình đẳng thu nhập, khiến người ta càng mất lòng tin vào toàn cầu hóa. Và ta cũng thấy rằng, trong những tình huống căng thẳng cấp bách như đại dịch, các nền kinh tế phát triển đã phải chật vật khi thu mua những thiết bị đơn giản. Người dân và người lao động muốn có một hệ thống kinh tế có thể bảo vệ họ tốt hơn. Các chính phủ cũng ghi nhận điều này và muốn chứng minh rằng họ thực sự quan tâm đến người dân. Câu hỏi đặt ra là họ phải làm thế nào.

Trước hết là thực thi chính sách nội địa: từ giáo dục và đào tạo đến khối phục và tái phân phối theo khu vực, đó là những gì mà chính phủ có thể làm, nhưng họ lại lãng quên nó trong thời kỳ hoàng kim của thị trường tự do toàn cầu. Hiện tại là thời điểm cho những chính sách mới.

Nhưng kinh nghiệm cho thấy rất ít các chính phủ quốc gia có thể vạch ra một kế hoạch phản ứng hoàn chỉnh mà không có sự hỗ trợ của môi trường toàn cầu. Mỗi quốc gia không thể tự mình xử lý tình trạng trốn thuế của doanh nghiệp toàn cầu, và điều chỉnh quy định cạnh tranh toàn cầu. Các nhà hoạch định chính sách toàn cầu cần nhận thức được rằng độ bền vững của chính sách mở cửa kinh tế phụ thuộc vào việc liệu nó có phân bổ lợi ích một cách công bằng hay không. Và, như nhận định của Dani Rodrik từ Đại học Harvard, hệ thống toàn cầu vừa cần phải thúc đẩy tính cởi mở, mà cũng vừa tạo điều kiện cho các quốc gia thích ứng.

Mỗi nội dung trong ba ưu tiên vừa nêu – bảo vệ các giá trị chung toàn cầu, kiềm hãm tranh chấp leo thang trong quan hệ kinh tế, và khiến hệ thống trở nên công bằng hơn – đều rất khó thực hiện. Kết hợp chúng lại sẽ tạo nên một thử thách gây nản lòng. Trong lịch sử nhân loại, các cường quốc đối lập chưa bao giờ chịu chấp nhận hợp tác để đẩy lùi những mối đe dọa chung to lớn. Không khó để tưởng tượng việc các nhà hoạch định chính sách có thể sự dụng những mục tiêu đáng khích lệ như giảm thiểu khí CO2, hay cổ súy cho khái niệm mà Châu Âu gọi là “quyền tự chủ chiến lược” như là cái cớ để áp đặt những chính sách chủ nghĩa bảo hộ trắng trợn. Hơn nữa, làm thế nào để thế giới tránh được một cuộc chia rẽ kinh tế toàn cầu nếu Trung Quốc vừa bị coi là một mối đe dọa an ninh quốc gia, vừa là một kẻ gây ô nhiễm vô ý thức, và một kẻ hủy hoại các quyền con người? Những thách thức này sẽ là bài kiểm tra khắc nghiệt đối với nhà lãnh đạo trong những năm tiếp theo.

Nguồn: Korea Herald

Từ khóa: Toàn cầu hóa, chủ nghĩa bảo hộ, chiến tranh thương mại, biến đổi khí hậu, bất bình đẳng xã hội, bầu cử tổng thống Mỹ

Chuyên mục RCEP

JSN_TPLFW_TOGGLE_MENU

Phân tích - Bình luận

JSN_TPLFW_TOGGLE_MENU

Thư viện hội nhập

thu vien


phong ve thuong mai

Video

Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field

Liên kết

 

Lượt truy cập

008795121
Go to top