
Kinh tế toàn cầu đang ngày một trở nên phức tạp hơn, kể từ khi nhóm ASEAN 3 gồm 10 nước thành viên của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á cùng Trung Quốc (bao gồm Hong Kong), Nhật Bản và Hàn Quốc – đưa ra Sáng kiến Đa phương Chiang Mai (CMIM), một thỏa thuận hoán đổi đa tiền tệ trong khối, vào 8 năm về trước. Hơn nữa, kể từ khi nổ ra cuộc khủng hoảng tài chính châu Á năm 1997 – 1998 cho đến nay, mức độ hội nhập giữa các nước trong khối ASEAN + 3 cũng như mức độ hội nhập giữa khu vực này với thế giới cũng đã được tăng cường đáng kể.
Các nền kinh tế trong ASEAN + 3 chiếm đến 27% GDP toàn cầu, cao hơn cả tỷ trọng của Mỹ (24%) và khu vực đồng tiền chung euro (16%). Trong thương mại, ASEAN+3 cũng chiếm gần 30% tổng kim ngạch thương mại toàn cầu, vượt qua cả Mỹ lẫn EU. Trong lĩnh vực tài chính, tỷ lệ đầu tư tài sản nợ nước ngoài của khối đạt gần 17% trong năm 2015, và tỷ lệ cho vay nước ngoài của các ngân hàng trong khu vực cũng tăng lên mức 22%.
Thương mại quốc tế phát triển và mạng lưới tài chính ngày một phức tạp đã làm gia tăng rủi ro xảy ra tình trạng bất ổn trong dòng vốn. Các nước châu Á tiếp tục tích lũy dự trữ ngoại hối để làm tấm đệm giảm sốc cho nền kinh tế; Quỹ dự trữ của các nước châu Á cộng lại đã lên đến mức 5 ngàn tỷ USD trong năm 2017, tăng gấp 5 lần so với giai đoạn nổ ra cuộc khủng hoảng tài chính châu Á. Tuy nhiên, tích lũy ngoại hối là cách làm tốn kém và thường gặp nhiều khó khăn, đe dọa làm trệch hướng nguồn lực khỏi các khoản đầu tư có hiệu quả.
Thỏa thuận CMIM nhằm huy động một quỹ dự trữ chung giữa các nước trong khối ASEAN+3 để hỗ trợ các nước thành viên khi đối mặt với các khó khăn tài chính tạm thời trong cán cân thanh toán. Thỏa thuận tài chính khu vực này là một cấu thành không thể thiếu trong mạng lưới an toàn tài chính toàn cầu. Các thành phần còn lại trong hệ thống này bao gồm quỹ dự trữ ngoại tệ riêng của từng quốc gia, hạn mức hoán đổi song phương giữa các ngân hàng Trung ương và Quỹ tiền tệ Quốc tế (IMF).
Các nước thành viên ASEAN + 3 luôn không ngừng tìm cách tăng cường sáng kiến CMIM, bao gồm cập nhật các nguyên tắc hoạt động và tiến hành các thử nghiệm cùng IMF. Bởi vì nguy cơ bất ổn kinh tế, điều quan trọng đối với các nước thành viên là phải tăng cường hơn nữa hợp tác tài chính khu vực và củng cố sáng kiến CMIM. Kinh tế toàn cầu tiếp tục hồi phục sẽ mở ra cơ hội để khối ASEAN+3 thực hiện rà soát toàn diện sáng kiến này và tiến hành các cải cách.
Trong vài năm trở lại đây, các quốc gia trong ASEAN+3, với sự hỗ trợ của Văn phòng nghiên cứu Kinh tế vĩ mô ASEAN+3, và IMF đã tăng cường hợp tác trong các đợt chạy thử nghiệm CMIM và hoạt động chia sẻ thông tin. ASEAN+3 muốn mở rộng sự hợp tác riêng của khối, tránh phụ thuộc vào IMF, để tăng cường thêm các yếu tố bổ sung cho mạng lưới an toàn toàn cầu, chẳng hạn như các thỏa thuận tài chính khu vực khác và các hiệp định hoán đổi tiền tệ song phương.
Quỹ CMIM, với quy mô hiện tại là 240 tỷ USD, đang giữ vai trò trung tâm trong mạng lưới an toàn khu vực của ASEAN, bên cạnh các biện pháp bổ sung khác, như một mạng lưới các hạn mức hoán đổi tiền tệ giữa ngân hàng Trung ương với nhau lên đến hơn 160 tỷ USD. Ngoài các biện pháp góp quỹ chung, cấp hạn mức hoán đổi song phương và quỹ dự trữ ngoại hối của riêng từng nước như đã nói ở trên, chính quyền các nước trong khối ASEAN+3 cũng nên xem xét biện pháp sử dụng đồng nội tệ trong các giao dịch thương mại.
Hoạt động thương mại trong khu vực châu Á phụ thuộc rất lớn vào đồng Đô la Mỹ, thậm chí khi tỷ lệ giao dịch thương mại nội khối trong thời gian qua đã tăng trưởng đáng kể. Số liệu giao dịch trên thị trường ngoại hối châu Á do Ngân hàng Thanh toán Quốc tế (BIS) cung cấp cho thấy, đồng Đô la Mỹ tiếp tục giữ vai trò thống trị trong các giao dịch ngoại hối ở khu vực, chiếm đến 87.6% tổng doanh số giao dịch năm 2016.
Các giao dịch thương mại cũng tương tự. Lấy ví dụ, các doanh nghiệp Nhật Bản chủ yếu sử dụng Đô la Mỹ trong các hợp đồng xuất khẩu hàng hóa sang các nước châu Á, với tỷ lệ hơn 50% trong năm 2015, và trong các hợp đồng nhập khẩu hàng hóa từ châu Á, tỷ lệ này là hơn 70%.
Ở Thái Lan, đang có dấu hiệu đáng khích lệ cho thấy một sự dịch chuyển sang dùng đồng nội tệ trong các giao dịch thương mại. Đồng Đô la Mỹ vẫn đang được các doanh nghiệp xuất nhập khẩu Thái Lan ưu tiên sử dụng, tuy nhiên, việc chuyển sang sử dụng đồng Baht đang có xu hướng tăng lên đều đặn. Tỷ trọng giá trị xuất khẩu sang các nước còn lại trong ASEAN bằng đồng Baht đã tăng từ 5% năm 2000 lên 23% trong năm 2017. Trong hoạt động nhập khẩu, tỷ lệ sử dụng đồng Baht cũng đã tăng từ 4% lên 13%.
Việc gia tăng sử dụng đồng tiền khu vực sẽ giảm thiểu rủi ro tỷ giá trong quan hệ với đồng Đô la Mỹ. Xu hướng này cũng giúp giảm bớt số lượng đồng Đô la Mỹ mà các nước phải nắm giữ trong quỹ dự trữ ngoại hối để làm tấm đệm thanh khoản cho giao dịch thương mại. Tuy nhiên, ngay từ ban đầu, khu vực phải giải quyết được vấn đề thiếu cơ sở hạ tầng để hỗ trợ cho hoạt động thương mại và thanh toán bằng nội tệ.
Các cuộc khủng hoảng tài chính quy mô lớn chắc chắn sẽ xảy ra trong nền kinh tế toàn cầu kết nối cao như hiện nay. Đối với các nước trong ASEAN+3, tăng cường hợp tác khu vực là việc làm cốt yếu để đảm bảo ổn định tài chính cho khu vực.
Tác giả: Junhong Chang - Giám đốc Văn phòng nghiên cứu Kinh tế vĩ mô ASEAN+3
Từ khóa: ASEAN, tăng cường hợp tác, tài chính khu vực
Các tin khác
- Liệu đàm phán với EU sẽ giúp New ZeaLand tạo ra một thỏa thuận tự do thương mại có lợi cho tất cả mọi người? - 22/06/2018
- ASEAN có thể sẽ được hưởng lợi từ chiến tranh thương mại Mỹ - Trung - 21/06/2018
- Hiểu rõ về mức thuế nhập khẩu mà Mỹ đánh vào Trung Quốc - 21/06/2018
- Chiến tranh thương mại Mỹ - Trung Quốc ảnh hưởng tới Việt Nam: Tác động trực tiếp chưa nhiều nhưng gián tiếp rất khó lường! - 21/06/2018
- Ý nghĩa chiến tranh thương mại của Trump đối với WTO và thương mại toàn cầu - 20/06/2018






















