JSN_TPLFW_TOGGLE_MENU
Phân tích - Bình luậnHội nhập kinh tế quốc tếChúng ta có thể rút ra bài học gì từ lịch sử của chủ nghĩa bảo hộ?

Chúng ta có thể rút ra bài học gì từ lịch sử của chủ nghĩa bảo hộ?

baohothuongmai

Niềm tin ‘bảo hộ sẽ mang lại thịnh vượng’ của Donald Trump đi ngược lại với tất thảy lối suy nghĩ chủ đạo trong kinh tế học. Vậy, cuộc ra quân rầm rộ lần này của Trump có thực sự gây hại cho nền kinh tế thế giới hay không?

Năm 1929, hai chính trị gia Đảng Cộng Hòa, Reed Smoot của bang Utah và Willis Hawley của bang Oregon đã vận động cho đạo luật hạn chế nhập khẩu vào Hoa Kỳ. Bộ đôi này hứa hẹn, hành động bảo hộ trên sẽ giúp tăng trưởng việc làm trong nước và bảo vệ tiêu chuẩn sống của những người lao động bản xứ.

Đạo luật Thuế Smoot-Hawley vấp phải làn sóng chỉ trích khủng khiếp từ giới chuyên gia kinh tế. Hơn một ngàn học giả và những người hoạt động trong ngành đã kiến nghị Tổng thống Hoa Kỳ lúc bấy giờ là Herbert Hoover phủ quyết đạo luật trên.

Nhưng tất cả đều vô ích. Tổng thống Hoover, vốn là người có quan điểm bảo hộ từ khi còn tranh cử, cuối cùng đã ký ban hành luật, áp mức thuế bình quân 40% lên khoảng 20,000 mặt hàng. Bức tường thuế quan lớn nhất trong lịch sử nước Mỹ đã được dựng lên, và chỉ hoàn toàn sụp đổ sau khi Chiến tranh Thế giới lần thứ II kết thúc 15 năm sau đó.

Ai bảo lịch sử không bao giờ lặp lại? 88 năm sau, người đàn ông tên Donald Trump đã tuyên thệ nhậm chức Tổng thống Mỹ trước tòa nhà Quốc hội, nơi đã từng chứng kiến đạo luật Smoot-Hawley được thông qua. Nhà tài phiệt bất động sản và ngôi sao truyền hình thực tế này đã dõng dạc tuyên bố trước đám đông đang tụ tập tại National Mall “bảo hộ sẽ mang lại nền thịnh vượng vĩ đại”.

Một lần nữa, giới học giả lại phải há hốc mồm kinh sợ. Một cuộc thăm dò ý kiến đầu năm nay cho thấy, hầu hết chuyên gia kinh tế đều tin rằng, thuế quan sẽ có hại hơn là có lợi cho nền kinh tế Mỹ. Trong giới chính trị, quan điểm này cũng được các đảng phái thống nhất. Các nhà kinh tế học vốn bất đồng trong vấn đề thâm hụt hay cắt giảm thuế khóa, cũng trở nên đồng điệu với nhau khi nói về lợi ích của thương mại tự do. Nhưng, lại một lần nữa, sự đồng thuận trong giới học thuật không hề có tác dụng. Quan điểm của họ - những người thông minh nhưng phi thực tế - đã bị xem nhẹ. Lần này, Trump sẽ hiện thực hóa lời đe dọa của mình.

Đầu tiên, Trump tấn công Trung Quốc, đánh thuế nhập khẩu lên sản phẩm robot và xe lửa siêu tốc đến từ nước này. Sau đó, ông vượt qua ‘giới hạn cho phép’ - áp thuế 25% lên thép nhập khẩu từ châu Âu, Canada, và Mexico. Đối với các nước đồng minh lâu đời của Mỹ mà nói, đây là một sự xúc phạm khi mức thuế trên được viện dẫn lý lẽ “an ninh quốc gia”.

Mọi việc chưa dừng lại ở đó. Mục tiêu trong tầm ngắm tiếp theo của Trump là ô tô, và biết đâu chừng, là những mục tiêu khác nữa. Trong lúc đó, châu Âu và Canada tin rằng Trump đang hiểu sai sự nhẫn nhịn của họ đồng nghĩa với sự yếu đuối, đã đáp trả lại bằng các mức thuế đối kháng lên hàng hóa Mỹ, bao gồm quần jeans và rượu bourbon. Về phía Trung Quốc, nước này có khả năng sẽ chặn đứng nhập khẩu đậu nành từ Mỹ, giáng đòn mạnh lên các bang nông nghiệp đang ủng hộ Trump. Và vì vậy, chu kỳ kinh tế như thời thập niên 1930, khi mà các nước trả đũa lẫn nhau, kinh tế suy thoái, công chúng tức giận và mất dần niềm tin, dường như đang bước ra từ trong bóng tối, giống như ‘hồn ma’ của các cuộc chiến tranh thương mại năm xưa lại trở về.

Lý thuyết lợi thế so sánh

Kể từ khi nhà chính trị và lý luận của nước Anh David Ricardo phát họa nên một ý tưởng mang tính cách mạng là “lợi thế so sánh” vào năm 1817, trong đó lấy sản phẩm rượu vang của Bồ Đào Nha và vải của Anh làm ví dụ, các nhà kinh tế học đã luôn tin tưởng tuyệt đối vào lợi ích của thương mại tự do.

Ricardo lập luận, hiệu quả sản suất của mỗi quốc gia sẽ được tối ưu hóa khi quốc gia đó tập trung sản xuất hàng hóa thế mạnh của mình. Ý tưởng đột phá nằm ở từ “so sánh”. Ricardo cho rằng, bất kỳ quốc gia nào cũng có thể trở nên giàu có, không cần phải dẫn đầu thế giới trong bất kỳ mặt hàng xuất khẩu cụ thế nào, đơn giản chỉ cần tập trung nguồn lực vào những gì quốc gia đó có thể sản xuất hiệu quả nhất (nguồn lực ở đây có thể là tài nguyên thiên nhiên, lao động dư thừa hoặc nguồn lực công nghệ).

Hàm ý của lý thuyết trên đó là, mỗi quốc gia đều có thể khai thác lợi ích từ hoạt động thương mại. Vì vậy, lý thuyết của Ricardo đã đánh bật được quan điểm đối lập là “tự cung tự cấp” – lý thuyết cho rằng một quốc gia chỉ nên tiêu dùng các sản phẩm do mình làm ra, và quan điểm “trọng thương” – lý thuyết cho rằng xuất khẩu của quốc gia này là thiệt hại kinh tế cho một quốc gia khác.

Không riêng gì trên lý thuyết mà trong thực tiễn, các sử gia kinh tế dường như cũng đứng trên cùng một mặt trận khi nói về lợi ích mà thương mại tự do mang lại. Mặc dù họ còn chưa thống nhất trong việc đánh giá tác động kinh tế gây ra bởi Đạo luật Smoot-Hawley, bên cạnh các chính sách tiền tệ và tài khóa sai lầm khác dẫn đến cuộc đại suy thoái của đầu thập niên 1930, nhưng rõ ràng rằng, không ai trong số họ cho rằng chủ nghĩa bảo hộ và thuế quan là có lợi, dù chỉ là một chút.

Trong giai đoạn từ sau khi kết thúc thế chiến lần thứ II trở đi, quan điểm ủng hộ thương mại tự do thậm chí còn rõ ràng hơn. Đó là sự thừa nhận rộng rãi rằng kế hoạch Marshall của Mỹ - kế hoạch đem lại sự bùng nổ kinh tế ở Âu châu và gỡ bỏ các rào cản thương mại – đã giúp đặt nền móng cho hiện tượng thần kỳ kinh tế ở Đức và 30 năm huy hoàng ở Pháp. Việc Trung Quốc hội nhập vào kinh tế thế giới sau khi Mao Trạch Đông qua đời vào cuối những năm 1970 và sự trỗi dậy của quốc gia này như là một cường quốc xuất khẩu đã giúp hàng trăm triệu người Trung Quốc thoát khỏi đói nghèo.

“Hệ thống thương mại toàn cầu đã hậu thuẫn cho thành công của nền kinh tế thế giới thời hậu chiến, thể hiện qua thu nhập tăng và, lần đầu tiên trong lịch sử, số lượng người nghèo trên thế giới giảm”, ông L Alan Winters đến từ Đại học Sussex nhận định.

Học qua Hành (learning by doing)

Mặc dù lý thuyết tự do hóa thương mại được thừa nhận tuyệt đối như là nguyên nhân thúc đẩy thịnh vượng, tuy nhiên, lý thuyết này vẫn còn những hạt sạn nhỏ. Không phải mọi quốc gia đều áp dụng trọn vẹn ‘câu chuyện ngụ ngôn’ về lợi thế so sánh vào thực tiễn. Trong các giai đoạn công nghiệp hóa nhanh chóng nửa sau thế kỷ 19, các nước như Đức và Hoa Kỳ đã dựng lên các bức tường thuế quan sừng sững để bảo hộ cho các doanh nghiệp sản xuất trong nước khỏi sự cạnh tranh gay gắt từ các siêu cường công nghiệp lúc bấy giờ là Anh.

Nhà kinh tế học của Đại học Cambridge Ha-Joon Chang nhắc chúng ta nhớ rằng, hầu hết các quốc gia giàu có nhất ngày nay đều đã từng “sử dụng các biện pháp bảo hộ mức độ lớn trong các giai đoạn quan trọng” suốt thế kỷ 19 và 20. Những người ủng hộ thương mại tự do có thể biện hộ rằng, nếu không có các biện pháp bảo hộ trên, các nước này thậm chí còn tốt hơn. Tuy nhiên, có rất ít bằng chứng đủ để kết luận rằng, chủ nghĩa bảo hộ là nguyên nhân kìm hãm nước Đức và nước Mỹ thời điểm đó.

Có thể kể ra thêm một vài ví dụ khác về chủ nghĩa bảo hộ trong thời kỳ hậu chiến. Ngành công nghiệp của Hàn Quốc đã cất cánh trong thập niên 1960 sau khi nước này dựng lên các hàng rào thuế quan cao ngất ngưỡng. Nhật Bản cũng đã bảo hộ ngành công nghiệp ô tô non trẻ của mình trước sự cạnh tranh từ nước ngoài trong suốt 40 năm kể từ khi Thế chiến lần II kết thúc. Và một câu chuyện tương tự cũng đã diễn ra ở Đài Loan. Một lần nữa, có rất ít bằng chứng để thấy rằng, chủ nghĩa bảo hộ gây ra tác hại kinh khủng cho những nước trên; thậm chí, họ còn nằm trong nhóm các quốc gia có tỷ lệ tăng trưởng cao nhất trong lịch sử nhân loại.

Trên thực tế, một sự kết hợp giữa rào cản thương mại và trợ cấp cho công nghiệp đã thực sự giúp cho các quốc gia châu Á này khai thác được tiềm năng kinh tế. Quan điểm này cho rằng, bảo hộ các ngành công nghiệp như sản xuất thép và đóng tàu giúp xây dựng năng lực sản xuất, khi đó, năng lực sản xuất này có thể trở thành nền tảng để phát triển các ngành kỹ thuật giá trị gia tăng khác về sau. Bảo hộ cho phép các doanh nghiệp nội địa và các cơ quan nhà nước xây dựng chính sách có cơ hội được “học hỏi thông qua thực hành” (learning by doing) – điều mà họ sẽ không thể có được nếu như mở cửa thương mại hoàn toàn.

Ông Ha-Joon Chang chỉ ra rằng, lợi thế so sánh của Hàn Quốc trong những năm 1950 là đánh bắt cá và sản xuất những bộ tóc giả rẻ tiền, chứ không phải là đóng tàu hay sản xuất hàng điện tử tiêu dùng. Nếu như 60 năm về trước, Hàn Quốc chỉ bó buộc mình trong lợi thế sẵn có và chờ đợi, liệu chúng ta sẽ có được tập đoàn Samsung như ngày nay? Và trong trường hợp Nhật Bản, liệu chúng ta sẽ được biết đến ông lớn Toyota? hay ở Đài Loan là Acer?

Nhiều người hoài nghi, bài học từ Hàn Quốc hay Nhật Bản ở trên liệu có đúng cho những nước nghèo. Có đầy những ví dụ về các quốc gia đang phát triển vì chủ nghĩa bảo hộ mà thành ra tham nhũng và lãng phí. Tuy nhiên, lịch sử đã trưng ra các bằng chứng đầy sức nặng cho thấy, bảo hộ ở một mức độ nhất định, trong những điều kiện nhất định và được song hành bằng các chính sách nhất định như xúc tiến xuất khẩu, là có lợi cho phát triển kinh tế.

Phá vỡ thỏa ước

Thương mại tự do còn gây ra một vấn đề khác. Nhà Kinh tế học của Harvard, ông Dani Rodrik lập luận, trong vấn đề thương mại, không phải chỉ đơn thuần đi giải bài toán về hiệu quả như Ricardo đã nói, một điều quan trọng nữa đó là tính đến sự công bằng trong xã hội.

Tình trạng dư thừa thép của Trung Quốc, khiến cho giá thép thế giới giảm dưới giá thành sản xuất thép trong thập kỷ trước, có thể giúp cung cấp nguồn đầu vào giá rẻ cho một số ngành công nghiệp ở phương Tây, từ đó giúp các ngành này tăng năng suất, tăng tổng việc làm và nâng cao thu nhập. Tuy nhiên, khi tình trạng này hủy hoại “khế ước xã hội” – yếu tố vô hình nhưng quan trọng – giữa chính phủ phương Tây với công nhân ngành thép ở nước họ - những người có nguy cơ mất việc làm khi thép bị bán phá giá, thì lẽ tất nhiên, người dân sẽ cảm thấy bất bình.

Tương tự, nếu hiện tượng các tập đoàn di dời nhà máy ra nước ngoài không phải bởi vì sản xuất ở nước ngoài hiệu quả hơn, mà là vì để lợi dụng các quy định sức khỏe và an toàn lỏng lẻo ở các nước đó, thì việc làm trên được xem là vi phạm tính công bằng xã hội.

Chính việc thỏa ước xã hội bị phá vỡ là nguyên nhân khiến Trump khơi màu “cuộc tàn sát của nước Mỹ”. Ông từng giận dữ nói rằng “từng công ty một đóng cửa và rời khỏi đất nước của chúng ta, thậm chí không một chút quan tâm đến hàng triệu người lao động Mỹ đang bị bỏ lại phía sau”.

Áp dụng bài học sai

Liệu những bất cập trên của thương mại tự do có đủ để chúng ta dành một chút tôn trọng cho hành động bảo hộ của Trump? Câu trả lời là không. Nước Mỹ là một quốc gia công nghệ phát triển. Tác dụng kích thích kinh tế của phương pháp “Học qua Hành” khó thể nào thích đáng với một nền kinh tế đang dẫn đầu về năng suất.

Mỹ đang dùng lý lẽ lập lại công bằng cho xã hội để giải thích cho lựa chọn đối đầu và xử lý vấn đề dư thừa năng suất của Trung Quốc cũng như các hình thức bán phá giá khác – nhiều hơn những gì mà nhiều nhà kinh tế học và chính trị gia chấp nhận.

Nhưng, thực tế là, các vấn đề trên chỉ có thể được giải quyết một cách bền vững thông qua các định chế đa phương như Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO). Các cuộc đấu đá chỉ thêm đe dọa toàn bộ hệ thống, và cái giá phải trả về mặt kinh tế là rất lớn.

Hơn nữa, các biện pháp thương mại của Trump không phải chỉ nhằm ngăn chặn hành vi bán phá giá bất công. Trump và đội ngũ cố vấn của mình còn muốn hạn chế nhập khẩu nói chung. Bằng một niềm tin của những người theo chủ nghĩa trọng thương sơ khai nhất, họ cho rằng con số thâm hụt thương mại đo lường mức độ mà Mỹ đang bị các doanh nghiệp ‘lừa đảo’ bên ngoài lợi dụng.

Năm 1929, nhà tư bản Henry Ford là một trong những người kiến nghị Tổng thống Hoover không ban hành đạo luật thuế Smoot-Hawley. Còn hiện nay, trong vấn đề thương mại, vị chủ nhân đương nhiệm của Nhà Trắng dường như lại đang thấm nhuần một câu nói từ nhiều năm về trước của Henry Ford, đó là: “Lịch sử là vô nghĩa”.

Nguồn: https://www.independent.co.uk/

Từ khóa: rút ra bài học,lịch sử,chủ nghĩa bảo hộ

Chuyên mục RCEP

JSN_TPLFW_TOGGLE_MENU

Phân tích - Bình luận

JSN_TPLFW_TOGGLE_MENU

Thư viện hội nhập

thu vien


phong ve thuong mai

Video

Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field

Liên kết

 

Lượt truy cập

008791850
Go to top