JSN_TPLFW_TOGGLE_MENU
Phân tích - Bình luậnHội nhập kinh tế quốc tếSự thật đằng sau tự do thương mại

Sự thật đằng sau tự do thương mại

FTA2404

“Đa số các chuyên gia kinh tế học đều thừa nhận rằng, mở cửa thương mại trên toàn thế giới sẽ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và nâng cao chất lượng cuộc sống” - Gregory Mankiw.

Năm 2016, Anh quốc quyết định rút lui khỏi Liên minh Châu Âu sau 43 năm, bất chấp những lợi ích từ việc được tham gia vào một thị trường rộng lớn, có giá trị trên 17 nghìn tỷ USD. Gần đây hơn, Tổng thống Mỹ Donald Trump đã quyết định tăng thuế đối với thép nhập khẩu và nhiều mặt hàng khác, đẩy căng thẳng thương mại với Trung Quốc leo thang, và đạt đỉnh điểm trong tháng này sau khi các cuộc đàm phán thương mại nhằm giải cứu tình hình không đem lại kết quả. Trong khi đó, tại Châu Phi, Nigeria và Nam Phi đã từ chối cơ hội tham gia vào Khu vực Tự do Thương mại Châu phi (AfCFTA). Kế đó, vào tháng Tư, Tổng thống Nigeria, ông Muhammadu Buhari đã từ chối ký vào Hiệp định Đối tác Kinh tế (EPA), một hiệp định nhằm thúc đẩy quá trình hội nhập giữa các nước Châu Phi, vùng biển Caribbean và Thái Bình Dương với Liên minh Châu Âu. Từ khi nào mà chủ nghĩa bảo hộ lại trở nên phổ biến như vậy?

Theo thống kế của Quỹ Tiền tê Quốc tế (IMF), trong vòng 35 năm vừa qua, nền kinh tế toàn cầu tăng trưởng với tốc độ trung bình 3,6%/năm. Cũng trong giai đoạn này, thương mại toàn cầu tăng 5,6% mỗi năm. Từ sau năm 2010, hai chỉ số ấy dừng lại ở mức 3,6% và 3,9%. Khi mà độ phổ biến của tư tưởng do thương mại bị giảm dần, thì tốc độ tăng trưởng của nền thương mại toàn cầu cũng chậm lại.

Sức hút của ý tưởng tự do hóa thương mại nằm ở lý luận về sự chuyên môn hóa và phân chia lao động: mỗi quốc gia nên tập trung chuyên môn hóa sản xuất những loại mặt hàng mà họ có lợi thế cao nhất (hoặc có lợi thế so sánh) và các quốc gia nên trao đổi hàng hóa với nhau. Kết quả của quy trình gồm hai bước đơn giản này là mọi sản phẩm đều được tạo ra với chi phi thấp nhất có thể, cho phép người tiêu dùng được mua hàng với giá thấp và đồng thời cũng thúc đẩy sự đổi mới.

Những nguyên tắc thương mại căn bản này đã tồn tại từ thời cổ đại, còn những phiên bản hiện đại của chúng đã ra đời từ thế kỷ 19. Tuy nhiên, chỉ đến khi cuộc Chiến tranh Thế giới thứ II kết thúc, thì con tàu tự do thương mại mới thực sự khởi hành, tạo ra một thời kỳ phát triển kinh tế dài nhất trong lịch sử - ít nhất là ở phương Tây. Đến cuối thế kỷ 20, tự do thương mại đã trở thành một học thuyết được thừa nhận rộng rãi, dẫn đến sự thành lập của Tổ chức Thương mại Thế giới (1995), sự hình thành của Khu vực Tự do Thương mại Bắc Mỹ (1994), và sự ra đời của khu vực đồng Euro – một liên minh tiền tệ chung Châu Âu, hiện chiếm 1/3 giá trị nền thương mại toàn cầu.

Trong khi đó, sự nổi lên của phong trào tự do hóa thương mại đã góp phần khai sinh ra một trường phái mới về lý thuyết phát triển kinh tế, được dẫn dắt bởi IMF và Ngân hàng thế giới, truyền bá những khái niệm như tư nhân hóa, thị trường tự do, và tự do thương mại đến các quốc gia đang phát triển. Tại Nigeria, Chương trình Điều chỉnh Cơ cấu (Structural Adjustment Program) tuy đã được triển khai từ những năm 1980, nhưng lại chưa bao giờ hoàn thành được mục tiêu của nó là tái định hướng nền kinh tế Nigeria, trong khi những người dân nước này lại phải gánh chịu những hệ lụy đau đớn từ các cuộc cải cách tự do hóa. Thực chất, hiện tượng này không có gì là bất thường; đa phần các quốc gia đang phát triển sẽ phải chịu thiệt hại từ việc thúc đẩy tự do hóa thương mại. Tuy nhiên, lỗi sai nằm ở chính họ. Sự bùng nổ của hoạt động xuất khẩu hàng hóa đã tạo điều kiện phát triển cho các nền kinh tế trong tiểu khu vực Sahara như Nigeria. Tuy nhiên, nó cũng dẫn đến hiện tượng Căn bệnh Hà Lan – khi những lợi ích thu được từ lĩnh vực xuất khẩu hàng hóa quá cao, khiến chính phủ không còn quan tâm đầu tư vào những lĩnh vực khác trong nền kinh tế, dẫn đến tình trạng mất cân bằng, chậm phát triển và bất bình đẳng sâu sắc hơn.

Chúng ta cũng không thể bỏ qua sự trỗi dậy của chủ nghĩa bảo hộ và chủ nghĩa quốc gia. Mặc dù còn nhiều nguyên nhân khác (chứ không phải chỉ riêng vấn đề thương mại) dẫn đến sự hiện diện của Tổng thống Trump và hiện tượng Brexit, chúng ta cũng không nên xem nhẹ tác động của tư tưởng chống toàn cầu hóa lên hai cuộc bầu cử gây thất vọng nhất của nền dân chủ hiện đại ở phương Tây. Mặc dù rất nhiều người Anh đã phải thường xuyên lắng nghe những lời tuyên truyền rằng Liên minh Châu Âu (EU) đang chèn ép họ, nhưng có lẽ không gì có thể khơi dậy phong trào Brexit mạnh mẽ hơn bằng những lời cáo buộc vô căn cứ rằng EU làm nước Anh hao tốn 350 triệu Euro mỗi tuần – một con số dùng để chi cho Dịch vụ Y tế Quốc gia. Các nhà chính trị gia dân túy đã nhận ra mối liên hệ giữa sự ủng hộ dành cho chủ nghĩa dân tộc và tâm lý chống tự do thương mại, đặc biệt là ở các nhóm có thu nhập thấp – những người chịu thiệt hại nhiều nhất bởi quá trình tự do hóa thương mại. Vây nên, khó mà phân biệt được những sự ủng hộ dành cho chủ nghĩa dân túy là dựa trên cơ sở kinh tế hay tư tưởng chính trị.

Nhưng sẽ sai lầm khi cho rằng chỉ những người theo chủ nghĩa dân túy mới có tư tưởng chống lại tự do thương mại. Trong thực tế, ngay cả những người ủng hộ trung thành nhất của tự do thương mại cũng thừa rằng hoạt động thương mại cũng có những mặt trái của nó; chẳng qua là họ đã quá xem nhẹ mức độ tác động của những mặt trái này. Điển hình là, tự do thương mại sẽ tạo ra kẻ thắng và người thua: nền kinh tế có thể được hưởng lợi từ thép giá rẻ do giảm thuế nhập khẩu, nhưng các nhà sản xuất thép nội địa sẽ phải chịu thiệt hại. Mặc dù lý thuyết kinh tế học có thể giúp chúng ta xác định được giá trị của những thiệt hại và lợi ích này, nhưng chúng lại không thể giải thích được tác động của những giá trị này vào thế giới thực. Ví dụ, liệu sự ra đời của một ngành công nghiệp mới trị giá 10 tỷ USD hoặc các sản phẩm dệt may được nhập khẩu với giá rẻ hơn 10% có bù đắp được cho 100,000 người lao động mất việc làm hoặc tỷ lệ thất nghiệp cố định tăng từ 3% lên 4%? Lý thuyết thương mại quốc tế sẽ không thể đưa ra câu trả lời cho những câu hỏi như thế này. Và khi người ta phát hiện rằng các nhà kinh tế học chỉ tính toán ra được những con số chứ không xác định được tác động thực sự, mọi người sẽ bắt đầu phản đối.

Ngoài ra, mặc dù những người ủng hộ tự do thương mại lường trước được những thiệt hại trong ngắn hạn đối với một số ngành nghề nhất định, nhưng họ lại luôn kỳ vọng rằng những thiệt hại này sẽ tự động biến mất trong dài hạn. Lập luận của họ dựa trên 3 giả định như sau. Thứ nhất, dòng chảy lao động rất linh hoạt, những người bị mất việc làm sẽ luôn được tái đào tạo để tiếp nhận việc làm mới. Thứ hai, chính phủ sẽ tìm cách tái phân bổ những lợi ích thu được cho những người thua cuộc. Cuối cùng, lợi ích từ giá thấp và chất lượng sản phẩm cao sẽ chiếm ưu thế hơn so với những tổn thất. Tuy nhiên, trong thực tế, không phải bất cứ lúc nào cả ba yếu tố trên cũng xảy ra. Đầu năm 1941, Paul Samuelson, một nhà kinh tế học mà sau này đã đoạt giải Nobel, đã chứng mình rằng tự do hóa thương mại có thể làm giảm tiền lương của công nhân ở một số ngành nghề, và trong dài hạn, tiền lương giảm nhiều hơn so với mức giảm giá sản phẩm, nghĩa là một số tầng lớp sẽ phải chịu thiệt hại vĩnh viễn từ hoạt động thương mại. Ngoài ra, khi nhìn lại vấn đề ở Nigeria, chúng ta có thể thấy giả định về độ linh hoạt của dòng chảy lao động đã bị thổi phòng quá cao. Khi quá trình tự do hóa thương mại tác động đến cơ cấu việc làm, người lao động nước này khó có thể tìm ra một công việc thay thế tại một quốc gia có tỷ lệ thất nghiệp cao đến 19%, tốc độ tăng trưởng dân số 3%, và nhà nước thì không kịp thời đầu tư hỗ trợ giáo dục và phát triển thị trường lao động.

Tuy nhiên, điều này không có nghĩa hoạt động thương mại là có hại cho chúng ta, nó chỉ đơn giản nhắc nhở ta rằng chúng ta không thể cứ theo đuổi tự do thương mại bằng bất cứ giá nào. Chúng ta cần xác định rõ những điều kiện để tiến hành hoạt động thương mại, và trong bối cảnh đó, việc từ chối không tham gia vào AfCFTA hay EPA khi chưa đạt được một thỏa thuận như ý muốn cũng có thể là dấu hiệu tốt. Chính phủ Nigeria đang muốn giảm bớt sự lệ thuộc của quốc gia vào hoạt động xuất khẩu dầu và khí gas; và liệu những hiệp định trên có giúp Nigeria thay đổi cơ cấu thương mại hiện tại hay làm cho nó trầm trọng thêm?

Nigeria vẫn có thế dùng hoạt động thương mại để tạo đà phát triển kinh tế, chỉ là không theo cách thức mà các nhà kinh tế học thường tuyên truyền. Để làm được điều này, Nigeria cần phải đầu tư vào cơ sở hạ tầng để củng cố năng lực cạnh tranh, thúc đẩy các mối quan hệ thương mại vững chắc hơn trong các lĩnh vực hàng hóa phi vật chất (chẳng hạn như dịch vụ, lao động…), và tìm cách khai thác những lợi thế chiến lược của quốc gia trong hoạt động thương mại với khu vực. Họ có thể sẽ gặp một vài trở ngại trong việc tìm kiếm một con đường đúng đắn để tham gia vào sân chơi thương mại quốc tế. Tuy nhiên, điều quan trọng là phải luôn ghi nhớ rằng tự do thương mại không phải là hoàn toàn tốt hay hoàn toàn xấu, mà chỉ theo đuổi nó một cách cực đoan mới làm cho tình hình xấu đi.

Nguồn: Business Day Online - HN

Từ khóa: Tự do thương mại, hội nhập, toàn cầu hóa, chủ nghĩa bảo hộ, chủ nghĩa dân túy, AfCFTA

Chuyên mục RCEP

JSN_TPLFW_TOGGLE_MENU

Phân tích - Bình luận

JSN_TPLFW_TOGGLE_MENU

Thư viện hội nhập

thu vien


phong ve thuong mai

Video

Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field

Liên kết

 

Lượt truy cập

008790863
Go to top