Chia tách hạn ngạch thuế quan sẽ là chương trình nghị sự của WTO trong tuần này
Ở một góc nhìn nào đó, Brexit giống như chương trình giáo dục phổ cập về bí mật của luật thương mại, cái giá phải trả cho “bài học” này là rất đắt, nhưng người dân nào của nước Anh cũng phải “học”, cho dù có muốn hay không.
Ngoài kia, những người dân Anh Quốc đều đang sống khá thoải mái. Trong nhận thức của họ, không hề có những cụm từ như “hạn ngạch thuế quan”. Chỉ những ai đang theo dõi sát sao diễn biến đàm phán Brexit, mới có thể cảm nhận được, những ngày tháng hạnh phúc đã qua đi.
Trong tuần này, tại trụ sở của Tổ chức Thương mại Thế giới WTO ở Geneva, quan chức các nước thành viên WTO sẽ xem xét đề xuất ban đầu của Anh Quốc – EU về vấn đề phân chia hạn ngạch thuế quan hiện hành trong nông nghiệp hậu Brexit, dựa trên cơ sở mức tiêu thụ hiện tại. Vấn đề này được truyền thông Anh hết sức quan tâm. Đề xuất đã bị phản đối bởi một nhóm các quốc gia xuất khẩu nông nghiệp, dẫn đầu là Mỹ. Nhiều người mô tả, mặc dù thiếu chính xác, rằng việc phản đối này giống như sự phản bội lại mối quan hệ đặc biệt, được thừa nhận, xuyên Đại Tây Dương giữa Mỹ và EU, bao gồm Anh. Và kẻ phản bội là chính quyền theo chủ nghĩa trọng thương và thừa sự hung hăng của Donald Trump, chứ không phải là chính sách thương mại của Mỹ như thường lệ.
Thời điểm này khiến người ta nhớ đến những gì mà nhiều nhà kinh tế học thường nói: Hạn ngạch thuế quan là một biện pháp phức tạp, kém hiệu quả và thậm chí là phản tác dụng, trong công cuộc tự do hóa thương mại. Ban đầu, đây chỉ là một phương tiện để đảm bảo duy trì quyền tiếp cận thị trường hiện tại, nhưng dần dà, chúng biến tướng thành biện pháp bất chính, vụ lợi để mua chuộc các đối tác thương mại, đổi lấy việc ký kết các thỏa thuận thương mại mà đem lại thế độc quyền và thậm chí có thể làm chậm trễ quá trình toàn cầu hóa về mặt tổng thể.
Các thỏa thuận về hạn ngạch thuế quan, cho phép một phần cố định các sản phẩm nông nghiệp được hưởng thuế bằng 0 hoặc dưới mức trung bình, đã được bàn luận trong suốt các cuộc thảo luận thương mại ở Vòng Uruguay cho đến khi đạt được thỏa thuận cuối cùng vào năm 1995. Mục đích là để đảm bảo rằng quá trình “thuế quan hóa”, quá trình chuyển đổi các rào cản phi thuế quan sang thuế quan, sẽ không làm giảm khả năng tiếp cận thị trường. Chúng thường được xem là giai đoạn chuyển tiếp để hạ thấp mức thuế tổng và làm cho thương mại tự do hơn.
Với thất bại của vòng Doha về giảm thuế quan, thì từ đó, hạn ngạch thuế quan đã không còn được dùng theo đúng mục đích ban đầu. Trong bối cảnh các công ty trong lĩnh vực nông nghiệp ngày càng tham gia nhiều vào các cuộc vận động hành lang cho các hiệp định thương mại, hạn ngạch thuế quan thường được dùng như của hối lộ để mua chuộc các nhóm lợi ích. Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương, được thiết kế để bao quát các vấn đề của thế kỷ 21, từ vấn đề dòng chảy dữ liện cho đến sở hữu trí tuệ, cuối cùng cũng chỉ được ký kết khi Nhật Bản chấp nhận hạn ngạch thuế quan của Mỹ đối với sản phẩm lúa mỳ, gạo và bơ sữa.
Hiệp định song phương EU – Nhật Bản cũng được khơi thông theo cách tương tự, với một hạn ngạch thuế quan cho các sản phẩm từ pho mát, bao gồm: pho mát Mozzarella của Ý, pho mát Brie và pho mát Camembert của Pháp, và pho mát Feta của Hy lạp. Trong hiệp định đang đàm phán giữa EU – khối Mercosur, hạn ngạch thuế quan của EU cho sản phẩm thịt bò và ethanol cũng là chủ đề chính mà Brazil và Argentina quan ngại, mặc dù các nước này chỉ chiếm một phần nhỏ (~ 1% thị phần thị bò) trong tổng tiêu thụ của EU. Khi đàm phán Doha đang diễn ra, nhiều người thường chế giễu rằng, đây là chính sách thương mại của thế kỷ 19, chứ không còn là của thế kỷ 21 nữa rồi.
Ở một mức độ nào đó, hạn ngạch thuế quan có thể xem như “viên kẹo” vô hại để giúp nuốt trôi một liều lượng thuốc lớn hơn. Hạn ngạch thuế quan là công cụ quản lý kinh tế, giúp chính phủ giải quyết các vấn đề truyền thống về lý thuyết lựa chọn công trong các hiệp định thương mại – đó là lợi ích lớn hơn cho người tiêu dùng và tính hiệu quả kinh tế có thể bị cản trở bởi nhóm nhỏ các nhà sản xuất có tổ chức cao – bằng cách đơn giản là mua chuộc chính quyền bằng một khoản hối lộ nhỏ nhất có thể.
Hạn chế của biện pháp Hạn ngạch thuế quan
Nhưng đồng thời, bản thân biện pháp này cho thấy sự yếu kém của nó, và có thể hạn chế quá trình tự do hóa diễn ra sâu rộng hơn. Hạn ngạch thường được phân bổ theo những cách dưới mức tối ưu, ví dụ như cách ai đến trước được trước, mà chỉ có lợi cho những kẻ nhanh chân hoặc những kẻ gần nhất về mặt địa lý, chứ không phải dựa trên giá cả. Trong năm 2015, Trung Quốc đã kiện EU ra tòa WTO để buộc Brussel phải phân bổ lại hạn ngạch mà đang được phân bổ dựa trên nguồn cung trong quá khứ, tại thời điểm mà xuất khẩu của Trung Quốc vào EU đang tạm thời bị gián đoạn do dịch cúm gia cầm. Việc phân bổ hạn ngạch dựa theo số liệu quá khứ, hoặc ưu tiên cho các đối tác có hiệp định thương mại song phương cũng gây cản trở cho các đối tác mới có chi phí thấp muốn thâm nhập thị trường.
Sự cứng nhắc của biện pháp này còn được làm rõ thêm bởi vấn đề mà Vương Quốc Anh và EU đang gặp phải. Các nhà xuất khẩu như Úc cho rằng, đối với một sản phẩm như thịt cừu, mà trước đây thường nhập chủ yếu vào Anh, thì việc chia nhỏ hạn ngạch dựa trên lượng tiêu thụ trong quá khứ sẽ làm cho các nhà cung cấp thịt cừu của Úc không thể chuyển hướng xuất khẩu sang 27 nước EU còn lại nếu nhu cầu thịt cừu ở Anh đột ngột giảm. Các bên có thể tránh trường hợp này nếu như EU và Anh có chung một mức thuế quan ngay cả khi Brexit. Brexit quả là một trường hợp không thường gặp, nhưng nguyên tắc chung cho thấy quyết định lượng nhập khẩu dựa trên việc kết hợp các số liệu trong quá khứ với quyền lực đàm phán của các đối tác thương mại, không phải là một con đường đúng đắn dẫn đến thương mại tự do.
Có lẽ, tác động âm ỉ nhất của Hạn ngạch thuế quan đó chính là tác động về mặt kinh tế chính trị. Tôi cho rằng, các nhà xuất khẩu cạnh tranh có thể trở thành lực lượng quyền lực để thúc đẩy việc giảm mức thuế chung. Nhưng nếu họ đã được mua chuộc bằng các hạn ngạch thuế quan cụ thể cho từng sản phẩm, họ có lẽ sẽ không bận tâm đến việc thúc đẩy giảm thuế nữa. Thực ra, những nhà xuất khẩu nắm giữ hạn ngạch có lẽ còn tích cực hơn trong việc phản đối tự do hóa nếu như việc đó động chạm đến lợi ích của họ. Lấy ví dụ, những người đang kịch kiệt phản đối các yêu cầu dỡ bỏ hạn ngạch, chẳng hạn như trong ngành đường của EU, chính là các quốc gia châu Phi và vùng Ca-ri-be, những nước đang nắm giữ quyền xuất khẩu lớn nhất vào thị trường này.
Hạn ngạch là công cụ các bộ trưởng thương mại rất ưa chuộng để hình thành liên minh ủng hộ một Hiệp định thương mại. Đối với các nhà xuất khẩu may mắn được cấp hạn ngạch, họ sẽ được đảm bảo một thị phần nhất định. Còn về phía các nhà nhập khẩu, họ sẽ dễ đoán được sự cạnh tranh từ nước ngoài dựa trên lượng hàng nhập đã được biết trước, hơn là ngồi suy đoán về lượng hàng nhập co giãn theo giá thị trường trong trường hợp không có hạn ngạch.
Nhưng cho dù Hạn ngạch thuế quan không hạn chế hoàn toàn nhập khẩu, nhưng đây vẫn là biện pháp kém hữu hiệu, tạo nên những bóp méo mới và các rào cản cho tiến trình tự do hóa sâu rộng hơn. Hạn ngạch thuế quan vừa liên quan đến quá trình tự do hóa thương mại nhưng cũng liên quan đến quá trình kiểm soát thương mại. Ngày nay, mặc dù hạn ngạch dường như đã trở thành hiện tượng cố hữu trong thương mại toàn cầu, thế nhưng, những mặt hạn chế của nó là không thể phủ nhận.
Nguồn: Financial Times - TQ
Từ khóa: hạn ngạch thuế quan, Brexit, xuất nhập khẩu, WTO, nông nghiệp, Anh, EU
Các tin khác
- Khi chính quyền Tập Cận Bình càng lớn mạnh, liệu cải cách kinh tế cuối cùng sẽ xảy ra? - 17/10/2017
- Trump nói sẽ cứng rắn với Mexico nhưng hành động lại nhắm vào Canada - 17/10/2017
- Quan hệ Trung-Hàn sa sút vì đâu? - 17/10/2017
- Có đáng để Canada tìm kiếm một thỏa thuận thương mại tự do với Trung Quốc? - 17/10/2017
- Tương lai hội nhập châu Âu sau diễn biến mới tại các nền kinh tế chủ chốt (Phần 2) - 17/10/2017






















