Các tranh chấp thương mại quốc tế thường là về an toàn thực phẩm. Tranh chấp giữa Nhật Bản và Trung Quốc một lần nữa chứng minh điều này, khi lệnh cấm nhập khẩu hải sản Nhật Bản do Trung Quốc áp đặt ngay sau khi Nhật Bản bắt đầu xả nước nhiễm phóng xạ đã qua xử lý từ nhà máy hạt nhân Fukushima ra Thái Bình Dương. Kết quả tranh chấp này có thể tạo ra nền tảng mới quan trọng trong luật thương mại quốc tế.
Cuối tháng 8, chính phủ Nhật Bản đã bắt đầu xả khoảng 31.200 tấn nước thải trong tổng số 4 đợt xả thải từ nhà máy vào tháng 3 tới. Trước khi tiến hành, Nhật Bản đã nhận được sự chấp thuận của Cơ quan Năng lượng Nguyên tử Quốc tế (IAEA), cơ quan này cho biết việc xả nước theo kế hoạch sẽ tác động “không đáng kể” đối với con người và môi trường.
Sau lệnh cấm hải sản, hiện Nhật Bản đang đe dọa về hành động pháp lý chống lại Trung Quốc lên Tổ chức Thương mại Thế giới. Căng thẳng giữa hai nước vốn đã cao nay lại càng cao hơn. Phương tiện truyền thông xã hội ở cả hai nước đang tràn ngập sự gay gắt lẫn nhau và các nhà ngoại giao của cả hai đều thẳng thắn về vấn đề này.
Hành động gây tranh cãi của Nhật Bản xuất phát từ điều mà Tokyo cho là cần thiết. Chính phủ Nhật Bản đã cố gắng vượt qua thảm họa Fukushima kể từ tháng 3 năm 2011, khi một trận động đất mạnh 9,0 độ richter gây ra sóng thần làm tan chảy ba lò phản ứng hạt nhân của nhà máy.
Là một phần của quá trình làm sạch, nước nhiễm phóng xạ đã được lưu trữ tại nhà máy kể từ đó. Nhưng hiện nay, hơn 1.000 bể chứa đã được lấp đầy tới 98% công suất khoảng 1,37 triệu tấn và cần được làm trống, Nhật Bản cho biết.
Kế hoạch của Nhật Bản là rút cạn các bể chứa từ từ trong nhiều thập kỷ. Một vấn đề là chưa có công nghệ loại bỏ toàn bộ chất phóng xạ khỏi nước thải trước khi đưa ra biển. Một nguyên tố phóng xạ - tritium - không thể loại bỏ được. Thay vào đó, lượng nước nhiễm xạ này được pha loãng để giảm hàm lượng tritium xuống mức thấp an toàn.
Mặc dù IAEA đã đồng ý triển khai kế hoạch của Nhật Bản nhưng Trung Quốc không mấy tin tưởng rằng phương pháp này đảm bảo an toàn. Do đó, nước này đưa ra lệnh cấm nhập khẩu.
Do đó, tranh chấp tiềm tàng tại WTO, nếu giải quyết không làm hài lòng của cả hai nước, có thể dẫn đến các phán quyết mới quan trọng theo Hiệp định WTO về áp dụng các biện pháp vệ sinh và kiểm dịch động thực vật, hoặc hiệp định SPS.
Theo thỏa thuận này, vốn đã gây tranh cãi mạnh mẽ trong suốt một phần tư thế kỷ qua, tất cả các thành viên WTO đều có quyền thực hiện các biện pháp vệ sinh và kiểm dịch để bảo vệ cuộc sống hoặc sức khỏe con người, động vật hoặc thực vật - miễn là phù hợp với các quy định của Hiệp định này.
Quyền quyết định thực hiện các hành động quốc gia như vậy được cho phép - nhưng chỉ trong các điều kiện mà Nhật Bản, Trung Quốc và tất cả các thành viên WTO khác đồng ý khi ký kết thỏa thuận an toàn này như một phần của hiệp ước WTO.
Trong các điều kiện này thì các nước thành viên chỉ được áp dụng các biện pháp đó trong phạm vi cần thiết để bảo vệ cuộc sống hoặc sức khỏe con người, động vật hoặc thực vật và các biện pháp đó phải dựa trên các nguyên tắc khoa học và không được duy trì nếu không có đủ bằng chứng khoa học. Cho đến nay, các luật sư của WTO chưa đưa ra phán quyết về các vấn đề pháp lý liên quan thế nào là “bằng chứng khoa học” hay “bằng chứng khoa học đầy đủ”. Trường hợp này có thể yêu cầu họ phải làm như vậy.
Các quốc gia thành viên cũng phải chứng minh rằng biện pháp SPS dựa trên đánh giá, tùy theo hoàn cảnh, rủi ro đối với đời sống hoặc sức khỏe con người, động vật hoặc thực vật. Cho đến nay, không có bằng chứng nào cho thấy Trung Quốc đã tiến hành đánh giá rủi ro trước khi áp dụng lệnh cấm nhập khẩu. Vụ việc này có thể yêu cầu các luật sư của WTO tiến xa hơn những gì họ đã làm trước đây trong việc xác định các tiêu chí đánh giá rủi ro có thể chấp nhận được.
Tuy nhiên, trường hợp bằng chứng khoa học liên quan không đầy đủ, một quốc gia thành viên có thể áp dụng biện pháp SPS tạm thời trên cơ sở thông tin thích hợp sẵn có. Có thể, Trung Quốc sẽ áp dụng điều khoản này trong bất kỳ vụ kiện tụng nào sắp tới của WTO. Do đó, trường hợp này có thể yêu cầu các luật sư của WTO làm chi tiết hơn trước về ranh giới của ngoại lệ này.
Có đủ bằng chứng khoa học chứng minh lệnh cấm nhập khẩu thủy sản từ Nhật Bản của Trung Quốc? Bắc Kinh có tiến hành đánh giá rủi ro trước khi áp dụng lệnh cấm? Nếu không, liệu việc áp dụng lệnh cấm trên cơ sở phòng ngừa tạm thời có hợp lý cho đến khi có thêm bằng chứng không? Đây là những câu hỏi trọng tâm quyết định kết quả của một tranh chấp tại WTO.
Dù kết quả tranh chấp pháp lý ra sao thì nó cũng có tác động sâu rộng vượt ra ngoài lệnh cấm này và vượt ra ngoài Nhật Bản và Trung Quốc.
Mọi tranh chấp tại WTO thực chất là hai tranh chấp. Một là tranh chấp giữa các quốc về một hành động thương mại cụ thể như hành động của Trung Quốc. Vấn đề còn lại là tranh chấp về ý nghĩa của một số nghĩa vụ WTO.
Để hệ thống thương mại toàn cầu hoạt động, những nghĩa vụ này phải có ý nghĩa như nhau đối với tất cả các nước thành viên WTO vào mọi thời điểm và mọi hoàn cảnh. Vì vậy, các phán quyết trong vụ tranh chấp này, nếu nó trở thành một vụ kiện của WTO, sẽ gây ra những hậu quả khác xa với Fukushima.
Nguồn: SCMP
Từ khóa: WTO, tranh chấp thương mại, Trung Quốc, Nhật Bản, lện cấm hải sản
Các tin khác
- Phục hồi sự phát triển của ASEAN - 28/09/2023
- Điều gì xảy ra với các FTA của Ấn Độ? - 28/09/2023
- Vì sao ngành than châu Á vẫn sẽ tồn tại lâu dài bất chấp quá trình chuyển đổi năng lượng? - 28/09/2023
- Các đồng tiền châu Á xuống mức thấp nhất trong năm do nỗi lo về kinh tế toàn cầu - 28/09/2023
- Việt Nam có thể làm chủ công nghiệp bán dẫn - 28/09/2023






















