Đây là thời điểm khó khăn đối với thương mại toàn cầu khi phải đối mặt với các vấn đề liên quan tới chuỗi cung ứng và những lo ngại về địa chính trị. Để vượt qua những thách thức này: cần giữ cho thương mại toàn cầu tăng trưởng. Theo quan điểm của Fred Bergsten, người sáng lập Viện Kinh tế Quốc tế Peterson (PIIE) thì có nghĩa là bất kể các hành động và sáng kiến liên tục – dù lớn hay nhỏ - sẽ đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy thương mại toàn cầu phát triển.

Có lý do chính đáng để thương mại toàn cầu tiếp tục tăng trưởng, ngay cả khi chủ nghĩa bảo hộ gia tăng trước những bất ổn và tiến độ cải cách hệ thống thương mại toàn cầu vẫn còn chậm. Hội nghị gần đây do Ngân hàng Thế giới và PIIE tổ chức đã củng cố quan điểm của nghiên cứu về tầm quan trọng của thương mại toàn cầu đối với tăng trưởng bền vững và giảm nghèo.
Hãy bắt đầu bằng cách xem xét các bằng chứng trong thực tiễn và tương lai. Bằng chứng cho đến nay cho thấy thương mại vẫn đang góp phần vào sự phục hồi và tăng trưởng thương mại toàn cầu. Các quốc gia và doanh nghiệp được tích hợp vào chuỗi giá trị toàn cầu đã có khả năng phục hồi tốt hơn trước các cú sốc, đồng thời thương mại dịch vụ dựa trên công nghệ kỹ thuật số cũng phục hồi nhanh chóng. Đồng thời, cần có các chính sách bổ sung để giải quyết tình trạng phân bổ lợi ích thương mại không đồng đều.
Thực tiễn cần phải cân bằng về hiệu quả và mối quan hệ giữa thương mại và đầu tư. Mối quan tâm đầu tiên là khả năng phục hồi. Ngay khi phải đối diện với nhiều cú sốc thường xuyên hơn và chính các cú sốc này đang được định hình bởi các cân nhắc về an ninh và địa chính trị. Cho đến nay, các công ty đã ứng phó với những cú sốc như thảm họa Fukushima ở Nhật Bản và sự bùng phát của Hội chứng hô hấp cấp tính nặng (SARS) ở châu Á bằng cách đa dạng hóa chuỗi cung ứng. Các nhà hoạch định chính sách đang hỗ trợ doanh nghiệp bằng các biện pháp hạn chế thương mại, các công ty đang có xu hướng chuyển các xưởng sản xuất gần với những thị trường sở tại, và các nền kinh tế phát triển đang sử dụng kết hợp chính sách công nghiệp và trợ cấp để thu hút thêm các biện pháp bảo vệ.
Mối quan tâm thứ hai là tính bền vững. Các công ty đang ngày càng theo đuổi các chuỗi cung ứng bền vững để đáp ứng các mục tiêu khí hậu “mức phát thải 'ròng bằng không'” và cân nhắc về mối quan hệ giữa hiệu quả với tính bền vững. Điều này đang xác định lại khả năng cạnh tranh về thương mại và đầu tư của các nước đang phát triển. Được thúc đẩy bởi những mối quan tâm về tính bền vững, các quốc gia như Mỹ đang trợ cấp cho các ngành công nghiệp xanh và Liên minh Châu Âu đang áp dụng Cơ chế điều chỉnh biên giới carbon (CBAM). Những biện pháp này có khả năng làm sai lệch các quyết định về thương mại và đầu tư, đồng thời ảnh hưởng hơn nữa đến các nước đang phát triển.
Đối mặt với các vấn đề đang diễn ra trong thực tiễn, các quốc gia nên định hướng thương mại và phát triển như thế nào? Nghiên cứu đề xuất bốn biện pháp chính như sau:
1. Chúng ta phải tránh chủ nghĩa cực đoan trong xây dựng chiến lược phát triển. Mặc dù các quốc gia có thể hành động dựa trên cơ sở an ninh quốc gia, khí hậu và bất bình đẳng thu nhập, nhưng việc thiết kế bất kỳ biện pháp nào cũng phải tính đến tác động của nó đối với các nước đang phát triển và đạt được mục tiêu của mình theo cách ít gây gián đoạn thương mại và tốn kém nhất. Mặc dù các chính sách hiện nay chỉ giới hạn trong các lĩnh vực như chất bán dẫn, năng lượng tái tạo, xe điện, thực phẩm và vật tư y tế, nhưng có nguy cơ chúng có thể sớm bao trùm một số lượng lớn hơn các lĩnh vực khác.
Nghiên cứu cho thấy rằng căng thẳng thương mại dẫn đến sự phân mảnh, rào cản nhập khẩu cao hơn và trợ cấp gia tăng giữa các quốc gia phát triển và Trung Quốc sẽ khiến nền kinh tế toàn cầu bị thiệt hại tới 1,4 nghìn tỷ đô la. Điều đó sẽ gây tổn hại cho tất cả mọi người, nhưng các nước đang phát triển sẽ phải gánh chịu hậu quả nặng nề hơn khi có thêm 52 triệu người nữa sẽ rơi vào cảnh nghèo đói cùng cực. Tác động lớn nhất có thể xảy ra ở các nền kinh tế nhỏ và các quốc gia không giáp biển, vốn phụ thuộc nhiều hơn vào thương mại.
Để hạn chế thiệt hại cho các nền kinh tế khác và ngăn chặn các hành động có khả năng bóp méo thương mại mở rộng sang các lĩnh vực khác, các biện pháp hạn chế được thực hiện dưới danh nghĩa khẩn cấp, an ninh quốc gia hoặc khả năng phục hồi phải tuân theo các nguyên tắc sau. Đầu tiên, chúng phải được quản lý một cách minh bạch và có trách nhiệm. Thứ hai, chúng nên được xem xét kĩ về mục tiêu, các hạn chế và tính tạm thời. Thứ ba, giảm thiểu sự gián đoạn thương mại. Lý tưởng nhất là thỏa thuận về các nguyên tắc như vậy nên đạt được ở cấp độ đa phương. Trong trường hợp hiện tại chưa có thỏa thuận, Ngân hàng Thế giới sẽ tiếp tục đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao nhận thức về các xu hướng toàn cầu này từ góc độ phát triển.
2. Chúng ta nên tiếp tục tạo thuận lợi cho thương mại để thu được những lợi ích chưa được khai thác. Cần lưu ý rằng phần lớn hoạt động thương mại hiện vẫn chưa bị ảnh hưởng bởi các biện pháp bảo hộ và việc dịch chuyển các xưởng sản xuất về gần thị trường các nước sở tại khó có thể xảy ra trong ngắn hạn, trừ một số ít lĩnh vực. Điều này tạo ra nhiều cơ hội để khai thác những lợi ích chưa được khai thác của thương mại hàng hóa mở và khai thác tiềm năng thương mại dịch vụ. Đa dạng hóa chuỗi cung ứng thông qua thương mại vẫn là giải pháp tốt nhất để giảm thiểu rủi ro trước các cú sốc.
Điều quan trọng đối với các nước đang phát triển là thiết kế các chính sách quốc gia đảm bảo môi trường kinh doanh ổn định có thể thu hút đầu tư và tăng trưởng dựa trên thương mại. Khi Mari Elka Pangestu giữ chức Bộ trưởng Thương mại Indonesia đã đưa ra nhiều cải cách chính sách để thu hút đầu tư, chẳng hạn như thông lệ tốt nhất trong luật đầu tư và cơ chế “một cửa” cung cấp nhiều dịch vụ. Bên cạnh đó thực hiện các cải cách thương mại để giảm chi phí thương mại trong các cam kết của Indonesia với Tổ chức Thương mại Thế giới và Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á. Cải thiện đường xá và cơ sở hạ tầng khác cũng rất quan trọng, cũng như giảm “biên giới dày” bằng cách hợp lý hóa các thủ tục biên giới rườm rà và cung cấp dịch vụ logistics và tài trợ thương mại hiệu quả.
Nhu cầu về các chính sách bổ sung để đảm bảo rằng lợi ích của thương mại được bao trùm và phân bổ rộng rãi cũng cần được đưa vào chiến lược quốc gia. Điều này bao gồm việc giảm bớt sự cứng nhắc trong thị trường lao động, hội nhập tốt hơn thị trường trong nước, đào tạo lại người lao động.
3. Cần có một chiến lược tổng thể để lồng ghép vấn đề khí hậu vào quá trình phát triển thương mại toàn cầu. Các xu hướng toàn cầu mới xoay quanh vấn đề công nghệ, khí hậu, khả năng phục hồi chuỗi cung ứng và chính sách công nghiệp đang tạo ra những cơ hội và thách thức cho các nước đang phát triển, đòi hỏi phải giám sát để đảm bảo tính minh bạch và công bằng. Do đó, điều quan trọng là các biện pháp liên quan đến biến đổi khí hậu – như thuế hoặc trợ cấp đang bắt đầu được các quốc gia phát triển đưa ra – phải minh bạch, không dựa trên các tiêu chuẩn được xác định đơn phương hoặc rời rạc mà dựa trên các tiêu chuẩn chung và không mang ý định bảo hộ. Điều quan trọng là các nước đang phát triển phải đưa vào bất kỳ thiết lập tiêu chuẩn nào và sử dụng các công cụ liên quan đến thương mại và biến đổi khí hậu, đồng thời triển khai các biện pháp xây dựng năng lực cạnh tranh.
Ngân hàng Thế giới đang mở rộng nỗ lực của mình để lấp đầy những lỗ hổng trong hiểu biết của người dân về các mô hình tăng trưởng thương mại, đồng thời nâng cao năng lực giám sát và dự đoán. Ví dụ, Indonesia đang nỗ lực thúc đẩy tính minh bạch về trợ cấp và ủng hộ các biện pháp có mục tiêu rõ ràng và có thời hạn; hỗ trợ các nỗ lực thu thập dữ liệu thương mại dịch vụ; hiểu rõ hơn về các chính sách thông minh trái ngược với các chính sách công nghiệp tốn kém; và đo lường chi phí thương mại.
4. Bảo vệ hệ thống thương mại đa phương là rất quan trọng và có thể cần đến các giải pháp mới. Cần nhấn mạnh rằng chính hệ thống thương mại mở và dựa trên luật lệ đã tạo nền tảng phát triển thương mại, tạo ra khả năng dự báo cho khu vực tư nhân, định hình chính sách quốc gia và hội nhập kinh tế khu vực. Tuy nhiên, việc thiếu sự lãnh đạo của các nền kinh tế lớn đã làm suy yếu WTO và hệ thống thương mại đa phương. Việc tiếp tục thúc đẩy thương mại toàn cầu tăng trưởng trong bối cảnh như vậy – và trong bối cảnh thế giới ngày càng phân mảnh – đòi hỏi chúng ta phải hỗ trợ các sáng kiến hợp tác. Có ba giải pháp tiềm năng như sau:
i) Thành lập các sáng kiến hợp tác. Các hiệp định đa phương mở cửa cho các thành viên mới và giúp thúc đẩy chương trình nghị sự thương mại hoặc tạo ra sự chắc chắn hơn cho thương mại. Một ví dụ là Sáng kiến Tuyên bố chung về Dịch vụ (JIS) và Thương mại điện tử, mà các quốc gia có cùng quan điểm đã khởi xướng để thúc đẩy các cuộc thảo luận về các vấn đề cụ thể. Một ví dụ khác là Thỏa thuận về cơ chế trọng tài phúc thẩm tạm thời nhiều bên (MPIA), một quy trình giải quyết tranh chấp chuyển tiếp được tạo ra để giải quyết tình trạng bế tắc trong cơ quan phúc thẩm của WTO do Mỹ ngăn chặn các đề cử.
Điều quan trọng đối với các sáng kiến hợp tác này là mở cửa cho các thành viên và quan sát viên mới, đảm bảo tính minh bạch trong các quy trình và khả năng chia sẻ đầy đủ thông tin. Mục đích cuối cùng sẽ là đưa các cách tiếp cận như vậy trở lại hệ thống thương mại đa phương một khi nó đạt được mức độ quan trọng nhất định; và quá trình này vẫn đang diễn ra để giải quyết các vấn đề mới hoặc quan trọng ngay cả khi không có sự đồng thuận của toàn bộ thành viên WTO.
ii) Tận dụng các hiệp định khu vực để ủng hộ chủ nghĩa đa phương. Các thỏa thuận khu vực có thể là những khối xây dựng nhằm mục đích hợp tác và cải cách. Các hiệp định thương mại tự do giúp tăng cường hội nhập kinh tế và mở cửa thương mại cho các quốc gia hơn nữa khi vượt qua vấn đề thuế quan để tạo thuận lợi thương mại và giải quyết các vấn đề mới như thương mại kỹ thuật số và khi mở rộng các thành viên. Những thỏa thuận như vậy bao gồm Hiệp định thương mại tự do lục địa châu Phi (AfCFTA) được thông qua vào năm 2020 để tạo ra một thị trường duy nhất bao gồm 54 quốc gia với 1,3 tỷ người và tổng GDP là 3,4 nghìn tỷ USD. Một nghiên cứu của Ngân hàng Thế giới cho thấy hiệp định này có tiềm năng tăng thu nhập thêm 9% vào năm 2035 và giúp 50 triệu người thoát khỏi tình trạng nghèo cùng cực. Ở Đông Á, Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện và Khu vực (RCEP) gồm 15 quốc gia có khả năng mang lại những lợi ích lớn nhất cho Campuchia, Việt Nam và các quốc gia có thu nhập trung bình thấp khác.
iii) Các nước đang phát triển được hưởng lợi từ hệ thống thương mại đa phương mang lại, có thể đóng vai trò mạnh mẽ hơn trong việc củng cố hệ thống thương mại đa phương và thúc đẩy tiến trình cải cách WTO. Thách thức đặt ra là phải giải quyết các vấn đề bao gồm nâng cao năng lực và đảm bảo khả năng nắm bắt thông tin về các vấn đề mới tốt hơn trong các hội đồng.
Duy trì cam kết mở cửa thương mại vẫn còn hấp dẫn. Các nước đang phát triển vẫn có thể thu được lợi ích từ thương mại và đầu tư xuyên biên giới. Có nhiều cơ hội đáng kể để tự do hóa hơn nữa nền kinh tế của các quốc gia này và giảm chi phí thương mại thông qua các nỗ lực tăng cường nhằm tạo thuận lợi cho thương mại xuyên biên giới và sau biên giới. Chúng ta phải đảm bảo hệ thống thương mại toàn cầu lưu thông bằng mọi cách có thể.
Nguồn: World Bank Blogs
Từ khóa: thúc đẩy; tăng trưởng; thương mại toàn cầu; bền vững; WTO.
Các tin khác
- Thỏa thuận thương mại tiềm năng giữa Trung Quốc-Uruguay có nguy cơ phá vỡ khối thương mại chung Nam Mỹ (Mercosur) - 22/03/2023
- RCEP là mối đe dọa hay cơ hội ? - 22/03/2023
- EU tìm cách giảm bớt sự phụ thuộc nguồn cung nguyên liệu thô vào các nước thứ ba - 22/03/2023
- Chủ động ứng phó với chính sách thuế tối thiểu toàn cầu - 22/03/2023
- Xuất nhập khẩu sụt giảm gây áp lực cho các nhóm hàng tỷ đô - 22/03/2023






















