Đại diện Thương mại Hoa Kỳ Katherine Tai khởi đầu vai trò mới bằng hàng loạt cuộc thảo luận với đến các đối tác từ khắp nơi trên thế giới. Điều đáng chú ý là bà Katherine giành ưu tiên đáng kể cho mục tiêu thúc đẩy hợp tác trong lĩnh vực thương mại kỹ thuật số với các đối tác châu Á tiềm năng. Nội dung này được đánh giá là khá quan trọng, giúp Hoa Kỳ có thể nhanh chóng tham gia vào khu vực Ấn Độ - Thái Bình Dương. Theo dự tính, Hoa Kỳ sẽ đề xuất một thỏa thuận kết hợp các hiệp định hiện có, giải quyết vấn đề liên quan đến các công nghệ mới nổi. Nếu thỏa thuận thành công, tầng lớp trung lưu Hoa Kỳ sẽ được hưởng lợi đáng kể.
Đây là thời điểm chín muồi cho một hiệp định thương mại kỹ thuật số khu vực do Mỹ dẫn dắt. COVID-19 càng khẳng định tầm quan trọng của các công cụ kỹ thuật số trong mọi tầng lớp xã hội, bao gồm các hoạt động làm việc, giáo dục và y tế. Tuy nhiên, các quy tắc quản lý cũ hiện ngày càng trở nên lạc hậu. Thỏa thuận cấp khu vực sẽ giúp xác lập các tiêu chuẩn và chuẩn mực chung cho một nhóm các quốc gia, gồm các nguyên tắc cởi mở, bao trùm, công bằng, minh bạch và chuyển dữ liệu tự do với nguồn gốc đáng tin cậy. Đây cũng có thể được xem là một cú hích quan trọng cho các cuộc đàm phán đang diễn ra trong Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) với tốc độ khá chậm chạp. Đồng thời, một thỏa thuận như vậy cũng có thể đưa Hoa Kỳ trở lại cuộc chơi thương mại ở châu Á, thậm chí là gia nhập lại Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP).
Việc phát triển một hiệp định thương mại kỹ thuật số cho khu vực Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương có rất nhiều lợi thế do có thể tham khảo nhiều hiệp định sẵn có khác, bao gồm Hiệp định CPTPP, Hiệp định Thương mại Kỹ thuật số Hoa Kỳ-Nhật Bản, Hiệp định Thương mại Kỹ thuật số Singapore-Australia, và Hiệp định Đối tác Kinh tế Kỹ thuật số New Zealand-Chile (DEPA). Các hiệp định song phương này có các điều khoản khác với CPTPP, bao gồm việc tăng cường cam kết đối với các luồng dữ liệu xuyên biên giới, mở rộng hợp tác về khả năng tương tác của các chế độ quyền riêng tư và phát triển các tiêu chuẩn mới về an ninh mạng.
Thỏa thuận Đối tác Kinh tế Toàn diện và Khu vực (RCEP) được ký kết gần đây cũng bao gồm một chương thương mại điện tử với các điều khoản về luồng dữ liệu tự do và cấm việc yêu cầu về bản địa hóa dữ liệu. Tuy nhiên, quy định về tự đánh giá “chính sách công” mở rộng là một ngoại lệ trong chương này, khiến giá trị của toàn chương bị giảm đáng kể. Chương này cũng không bao gồm các cam kết về không phân biệt đối xử đối với các sản phẩm kỹ thuật số như trong các FTA khác.
Đây là một kết quả đáng thất vọng vì nhiều thành viên RCEP đã đồng ý với các quy tắc thương mại kỹ thuật số cao hơn trong các hiệp định khác. Các quy tắc RCEP về thương mại điện tử phần lớn phản ánh cách tiếp cận của Trung Quốc đối với vấn đề thương mại kỹ thuật số, nhất là các cam kết liên quan tới nội dung bản địa hóa dữ liệu, các hạn chế đối với luồng dữ liệu xuyên biên giới và các chính sách có lợi cho các “ông lớn” ngành kỹ thuật số trong nước. RCEP làm rõ thêm thực trạng là các hiệp định thương mại không do Hoa Kỳ lãnh đạo thường sẽ hạ thấp tham vọng với tác động lan tỏa tiêu cực tiềm tàng trong lĩnh vực thương mại điện tử ở WTO và APEC.
Hoa Kỳ nên lắng nghe các ưu tiên, kinh nghiệm và mối quan tâm của các đối tác tiềm năng với các cách tiếp cận đa dạng tại Ấn Độ - Thái Bình Dương trong quá trình đàm phán hiệp định thương mại kỹ thuật số khu vực. Đặc biệt, có ba yếu tố quan trọng sẽ giúp một thỏa thuận kỹ thuật số khu vực mới năng động hơn, bao trùm hơn và mang lại lợi ích thực sự cho người lao động.
Thứ nhất, một hiệp định thương mại kỹ thuật số khu vực có thể tăng cường hợp tác về trí thông minh nhân tạo (AI) và các công nghệ mới nổi khác. Có nhiều công việc đang được tiến hành để phát triển các nguyên tắc và tiêu chuẩn đạo đức trong ngành AI. Ở đây, thỏa thuận thương mại kỹ thuật số Singapore-Australia là một ví dụ về cách một thỏa thuận thương mại có thể hỗ trợ đổi mới AI nhưng vẫn phù hợp với các chuẩn mực dân chủ và nhân quyền.
Thứ hai, một thỏa thuận khu vực phải đảm bảo được lợi ích của dòng chảy thương mại kỹ thuật số đối với người lao động cũng như các doanh nghiệp vừa và nhỏ, đồng thời giúp thu hẹp khoảng cách kỹ thuật số giữa các bên. DEPA cung cấp một ví dụ hữu ích về điều này, bắt đầu với cam kết mở rộng tính toàn diện kỹ thuật số. DEPA cũng chú ý đến các doanh nghiệp vừa và nhỏ, tìm cách nâng cao mức độ cung cấp hay tiếp cận thông tin với các công cụ hỗ trợ sẵn có. Ngoài ra, các quy định của DEPA về lập hóa đơn điện tử, vận chuyển nhanh và khả năng tương tác của thanh toán điện tử cũng sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho sự tham gia của DNVVN. Những khía cạnh này phù hợp chặt chẽ với các mục tiêu của chính sách thương mại mới lấy người lao động làm trung tâm của Hoa Kỳ.
Thứ ba, áp dụng cách tiếp cận “mô-đun” như trong DEPA sẽ giúp mở rộng sự tham gia của Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore, Úc và New Zealand. Cách tiếp cận này mở ra cánh cửa cho các thành viên mới tham gia cam kết từng phần của thỏa thuận ở bước đầu tiên, bảo lưu và sau đó tiếp tục cam kết ở những lĩnh vực khó khăn hơn khi đã sẵn sàng. Nếu Hoa Kỳ và các đối tác thúc đẩy một mô hình cho nền kinh tế kỹ thuật số dựa trên các giá trị của sự cởi mở và bao trùm, thì quốc gia mới tham gia có thể bắt đầu với một số chương nhất định mà không cần đợi đến khi đủ năng lực sẵn sàng cam kết mọi thứ. Đây là một cách sáng tạo khuyến khích các quốc gia tham gia hiệp định.
Chính quyền Biden đã có một khởi đầu ấn tượng trong việc xây dựng lại các liên minh và quan hệ đối tác ở khu vực Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương. Tuy nhiên, để chứng minh rằng Hoa Kỳ “đã trở lại”, sự tái cam kết này sẽ cần phải có các cấu phần phần thương mại mạnh mẽ được thực hiện một cách nghiêm túc.
Thương mại mở rộng và hội nhập kinh tế là những gì các đối tác châu Á đang tìm kiếm, điển hình là kết quả của CPTPP và RCEP. Mặc dù các quốc gia châu Á dường như chấp nhận rằng Hoa Kỳ không thể tham gia một cuộc đàm phán thương mại lớn vào thời điểm này, nhưng họ vẫn đang tìm kiếm các sáng kiến mở cửa thị trường thể hiện cam kết lâu dài của Hoa Kỳ đối với sự thịnh vượng kinh tế của khu vực. Có lẽ, thương mại kỹ thuật số có thể trở thành sáng kiến đầu tiên, đóng vai trò nền móng cho tương lai.
Nguồn: The Hill
Từ khóa: thỏa thuận kỹ thuật số, châu Á- Thái Bình Dương
Các tin khác
- Tại sao Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương lại có ý nghĩa quan trọng đối với châu Âu sau đại dịch? - 16/04/2021
- Con đường tơ lụa kỹ thuật số của Trung Quốc và Trật tự kỹ thuật số toàn cầu - 16/04/2021
- Nhượng bộ mới của Mỹ về thuế doanh nghiệp toàn cầu, Việt Nam cần làm gì? - 16/04/2021
- Tận dụng ưu đãi thuế quan từ CPTPP: Doanh nghiệp FDI tối ưu hóa cơ hội tốt hơn - 16/04/2021
- Sự phục hồi không đồng đều của nền kinh tế toàn cầu - 16/04/2021






















