JSN_TPLFW_TOGGLE_MENU
Phân tích - Bình luậnHội nhập kinh tế quốc tếCon đường tơ lụa kỹ thuật số của Trung Quốc và Trật tự kỹ thuật số toàn cầu

Con đường tơ lụa kỹ thuật số của Trung Quốc và Trật tự kỹ thuật số toàn cầu

con duong to lua 16.4.21

Con đường tơ lụa kỹ thuật số của Trung Quốc là một tầm nhìn đầy tham vọng nhằm thúc đẩy quá trình số hóa toàn cầu. Chương trình này sẽ có ý nghĩa gì đối với quản trị kỹ thuật số?

Con đường tơ lụa kỹ thuật số của Trung Quốc (DSR) được khởi động vào năm 2015 như một phần trong Sáng kiến ​​Vành đai và Con đường (BRI) – một tầm nhìn rộng lớn của Bắc Kinh về kết nối toàn cầu. Giống như BRI, DSR liên quan đến nhiều chủ thể ở mọi cấp độ trong khu vực công và khu vực tư của Trung Quốc. Chương trình không có hình dạng nhất định và ranh giới giữa các dự án DSR chính thức và không chính thức thường khó nhận diện. Ngoài ra, khó có dữ liệu toàn diện về các khoản đầu tư DSR. Theo một ước tính, vào năm 2018, các khoản đầu tư liên quan đến DSR vào các dự án cơ sở hạ tầng kỹ thuật số bên ngoài Trung Quốc đã đạt 79 tỷ USD.

DSR nhằm mục đích cải thiện kết nối kỹ thuật số ở các nước tham gia, trong đó, Trung Quốc là động lực chính của quá trình này. Ở cấp độ vĩ mô, DSR là dự án về phát triển hạ tầng và khả năng tương tác của cơ sở hạ tầng kỹ thuật số quan trọng như cáp dữ liệu trên mặt đất và dưới biển, mạng di động 5G, trung tâm lưu trữ dữ liệu và hệ thống định vị vệ tinh toàn cầu. Một trong những bước đi gần đây nhất là việc Trung Quốc hoàn thành phóng hệ thống vệ tinh toàn cầu do nước này phát triển mang tên BeiDou, và ở một số khu vực, hệ thống định vị này thậm chí còn chính xác hơn hệ thống định vị toàn cầu (GPS) của Hoa Kỳ. Ở Châu Á, Pakistan, Lào, Brunei và Thái Lan là một trong những quốc gia đã áp dụng BeiDou, và ở Tây Á (Trung Đông) và Châu Phi, số lượng người dùng Beidou cũng đang tăng lên. Ở cấp độ vi mô, DSR thúc đẩy kết nối giữa các doanh nghiệp địa phương với người tiêu dùng, giữa các doanh nghiệp với nhau, và giữa những người tiêu dùng với nhau. Các ví dụ về DSR ở cấp độ vi mô bao gồm các nền tảng và các ứng dụng về thương mại điện tử, gọi xe, fintech (công nghệ tài chính) và edtech (công nghệ giáo dục); cũng như các phần cứng như bộ định tuyến, điện thoại thông minh và máy tính để bàn.

Điều gì thúc đẩy Trung Quốc phát triển DSR?

DSR không chỉ là một dự án cơ sở hạ tầng. Đối với Trung Quốc, DSR còn là một giải pháp nhằm tạo ra một trật tự kỹ thuật số cho châu Á và cho toàn cầu theo hướng ít xoay quanh Hoa Kỳ mà thay vào đó là xoay quanh Trung Quốc. Để theo đuổi mục tiêu này, Trung Quốc cho phép mở ra các thị trường mới cho những gã khổng lồ công nghệ của Trung Quốc như Alibaba, Tencent và Huawei, đồng thời tăng cường kết nối kỹ thuật số của thế giới với Trung Quốc.

DSR phù hợp với các mục tiêu quốc gia đầy tham vọng của chính quyền Trung Quốc như “Sản xuất tại Trung Quốc 2025” và “Tiêu chuẩn Trung Quốc 2035.” Những sáng kiến ​​này nhằm nâng cao năng lực đổi mới sáng tạo, nền sản xuất và giao dịch của Trung Quốc ở trong nước. Đến lượt mình, những mục tiêu trên lại nằm trong trong tầm nhìn bao quát của chính phủ Trung Quốc về đứng đầu công nghệ và tự chủ công nghệ trong trật tự kỹ thuật số toàn cầu.

Chính phủ Trung Quốc tìm cách giảm sự phụ thuộc vào các nước dẫn đầu công nghệ khác, đặc biệt là Hoa Kỳ, Nhật Bản và một số quốc gia châu Âu. DSR hỗ trợ những gã khổng lồ công nghệ Trung Quốc và các công ty công nghệ nhỏ hơn tăng doanh số bán hàng và giữ vững thị phần trong nước cũng như giành được chỗ đứng ở thị trường nước ngoài - thường là với sự hỗ trợ về chính sách của chính phủ Trung Quốc. Bất kể cách tiếp cận nào, DSR sẽ mở rộng danh sách các nhà cung cấp độc quyền về sản phẩm và dịch vụ kỹ thuật số.

Thật vậy, một nhóm nhỏ các công ty đang dẫn đầu thế giới công nghệ, và các gã khổng lồ công nghệ khổng lồ của Mỹ như Alphabet (Google), Intel, Amazon, Cisco và Facebook nói riêng đang độc quyền gần như toàn cầu trong các lĩnh vực tương ứng của họ. Ví dụ, vào cuối năm 2018, các nhà cung cấp nội dung như Microsoft, Facebook và Amazon đã sở hữu hoặc cho thuê hơn một nửa băng thông cáp quang dưới biển. Các loại cáp này mang gần 98% dữ liệu internet và lưu lượng điện thoại quốc tế. Sự thống trị như vậy là không lành mạnh và một số nước, bao gồm cả EU và Úc, đã đưa ra một số biện pháp nhằm kiềm chế sự thống trị của những gã khổng lồ công nghệ này.

DSR thường tập trung vào các nước tham gia BRI và các nền kinh tế đang phát triển; nhưng phạm vi tiếp cận của DSR không giới hạn trong những nước này. Sáng kiến ​​này muốn lấp đầy những “khoảng trống” kỹ thuật số ở bất cứ nơi nào nó phát hiện ra. Những nước nhận đầu tư DSR nhiều nhất thậm chí còn bao gồm các nền kinh tế lớn của Châu Âu như Đức và Ý. Ở châu Âu, các dự án DSR tập trung vào mạng 5G, công nghệ tài chính và công nghệ thành phố thông minh. Thông qua các hợp đồng đối tác công – tư (PPP) với Trung Quốc, DSR tạo ra một thế giới số hóa hơn từ Serbia đến Mexico đến Myanmar. Một thế giới số hóa hơn không chỉ mang lại lợi ích cho Trung Quốc và các công ty Trung Quốc. Thật vậy, số hóa thông qua DSR, nếu đi kèm với tăng trưởng kinh tế, có thể mang lại nhiều cơ hội đầu tư và thương mại cho các công ty công nghệ và phi công nghệ không phải của Trung Quốc.

Nhưng có những thách thức đáng kể

Giống như bất kỳ sáng kiến ​​nào ở tầm quy mô này, DSR đi kèm với một số thách thức. Đặc biệt, đây là những thách thức đặt ra cho những gã khổng lồ công nghệ và những nhà cung cấp cơ sở hạ tầng kỹ thuật số hiện có, những người muốn duy trì vị trí dẫn đầu của họ. Tuy nhiên, nhìn chung, những thách thức này còn là thách thức chung cho tất cả các bên liên quan ủng hộ tầm nhìn về một không gian mạng toàn cầu cởi mở, minh bạch, tự do và bình đẳng hơn - và là thách thức cho hệ thống quản trị kỹ thuật số nói chung.

Về mặt này, DSR có bốn ý nghĩa chiến lược quan trọng và sâu rộng. Đầu tiên, Trung Quốc có thể tự mình phát triển và cung cấp các sản phẩm được xem là ‘xương sống’ kỹ thuật số cho thế giới. Các sản phẩm ‘xương sống’ bao gồm các cơ sở hạ tầng giúp giao tiếp kỹ thuật số trở nên khả thi, chẳng hạn như cáp dữ liệu, mạng di động và trung tâm lưu trữ dữ liệu. Tương tự như nguyên tắc của khối lego, khi Trung Quốc phát triển càng nhiều sản phẩm ‘xương sống’, thì họ càng có thể xây dựng thêm nhiều sản phẩm khác kết nối với nền tảng đó - do đó, củng cố vị trí của mình trong trật tự kỹ thuật số toàn cầu.

Thứ hai, DSR có thể tạo điều kiện cho Trung Quốc thiết lập các tiêu chuẩn cho cơ sở hạ tầng kỹ thuật số và công nghệ thế hệ tiếp theo như trí tuệ nhân tạo, robot, Internet vạn vật, blockchain, máy tính không máy chủ, v.v. Mặc dù tất cả các nước dẫn đầu công nghệ đều tìm cách thiết lập ra tiêu chuẩn, nhưng các nước hiện đang dẫn đầu công nghệ coi những nỗ lực mới nổi của Trung Quốc nhằm thiết lập các tiêu chuẩn là sự cạnh tranh. Trong bối cảnh đó, việc thiết lập ra các tiêu chuẩn sẽ mang lại lợi thế chiến lược đáng kể cho Trung Quốc. Hơn nữa, DSR tạo ra các huyết mạch kỹ thuật số có khả năng thúc đẩy chuỗi cung ứng của Trung Quốc, nền kinh tế của Trung Quốc, và do đó, ảnh hưởng kinh tế toàn cầu nói chung của nó.

Thứ ba, quan điểm của Trung Quốc về quản trị kỹ thuật số có bản chất gia trưởng hơn nhiều. Điều này hoàn toàn khác với quan điểm tự do trung bình của phương Tây về các giá trị và chuẩn mực kỹ thuật số, đặc biệt là của Hoa Kỳ. Chính phủ Trung Quốc thực thi các hạn chế nghiêm ngặt đối với không gian mạng ở trong nước. Nước này cũng không ngần ngại giám sát chặt chẽ người dùng mạng trong nước trong một “mạng nội bộ” với rất nhiều hạn chế. Đúng vậy, Trung Quốc chắc chắn không phải là quốc gia duy nhất thực hiện quan điểm hạn chế về quản trị kỹ thuật số và các quốc gia khác nhau thực thi các loại và mức độ hạn chế khác nhau đối với không gian mạng. Các quốc gia như Singapore và Ấn Độ cũng có xu hướng thực thi các biện pháp kiểm soát đối với nội dung và EU cũng đang ngày càng can thiệp vào nội dung mang. Vì vậy, mặc dù DSR không thúc đẩy một không gian mạng tự do và minh bạch, nhưng điều quan trọng cần lưu ý là không có các giá trị chung trên toàn cầu trong quản trị không gian mạng. Có lẽ điều này xuất phát từ sự đa dạng về văn hóa và các giá trị chính trị-xã hội giữa các nước với nhau - cả trên mạng lẫn trong cuộc sống bên ngoài.

Thứ tư, các doanh nghiệp Trung Quốc nói riêng và các cơ quan chức năng của Trung Quốc nói chung, có thể có quyền truy cập vào các kho dữ liệu địa phương lớn thông qua DSR. Bằng cách tăng cường sự phụ thuộc của các quốc gia khác vào cơ sở hạ tầng của Trung Quốc, về mặt lý thuyết, Bắc Kinh có thể đạt được một công cụ có giá trị về ảnh hưởng chính trị địa phương, mặc dù điều này sẽ phụ thuộc đáng kể vào các chính sách an ninh mạng của địa phương và năng lực thực thi cùng các yếu tố khác. Tuy nhiên, việc khai thác tiềm năng như vậy không phải dành riêng cho Trung Quốc. Như tiết lộ của Edward Snowden và vụ bê bối dữ liệu Facebook-Cambridge Analytica cho thấy, bất kỳ nhà cung cấp công nghệ nào hoặc công ty công nghệ mạng tiên tiến nào cũng có thể lạm dụng vị trí của họ, nếu muốn.

DSR rõ ràng phục vụ một mục tiêu rộng lớn hơn là thu hẹp khoảng cách kỹ thuật số toàn cầu. Nó cũng thách thức sự thống trị hiện có của hệ thống giá trị kỹ thuật số của Hoa Kỳ và thị phần thống trị của các công ty công nghệ. Như vậy, DSR giới thiệu cả những đối tác nghiêm túc trong chuyển đổi kỹ thuật số cho những quốc gia cần các sản phẩm và dịch vụ kỹ thuật số có giá cạnh tranh, cũng như cạnh tranh với các nhà lãnh đạo công nghệ hiện có. Bất kể ở đâu, giữa một đại dịch đã tàn phá nền kinh tế toàn cầu, số hóa và tăng trưởng kinh tế vẫn được chào đón hơn bao giờ hết.

Nguồn: The Diplomat

Từ khóa: con đường tơ lụa của Trung Quốc

Chuyên mục RCEP

JSN_TPLFW_TOGGLE_MENU

Phân tích - Bình luận

JSN_TPLFW_TOGGLE_MENU

Thư viện hội nhập

thu vien


phong ve thuong mai

Video

Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field

Liên kết

 

Lượt truy cập

008795964
Go to top