Lý thuyết về vùng kinh tế đã được sử dụng để miêu tả sự tăng trưởng trong rất nhiều ngành công nghiệp, như ngành sản xuất ô tô tại Detroit, công nghệ cao tại Thung lũng Silicon, và truyền thông kỹ thuật số tại Seoul. Những khu vực này được hưởng lợi từ việc tập trung các nguồn lực tương hỗ, bao gồm cả các chương trình nghiên cứu ở trường đại học, nguồn nhân công chi phí thấp hoặc tay nghề cao, và những ưu đãi về địa lý. Hiểu về cách thức hoạt động của những vùng kinh tế có thể giúp các chính phủ phát triển những chính sách hiệu quả nhằm tạo ra các vùng kinh tế này, cũng như hướng các doanh nghiệp đến những khu vực thích hợp nhất để xây dựng cơ sở kinh doanh.
Các vùng kinh tế thường được sử dụng để giải thích sự phát triển của các nền kinh tế địa phương. Tuy nhiên, một bài nghiên cứu mới đây đã nhận xét rằng, các vùng kinh tế còn tạo ra tác động lớn đến nền kinh tế toàn cầu, rộng hơn những gì mà người ta nhận ra. Bà Valeria Giacomin, một thành viên thuộc đại học Havard, gọi các vùng kinh tế là “các khối hợp nhất của nền kinh tế toàn cầu”.
Bà Giacomin lưu ý rằng, các vùng kinh tế đã tồn tại từ trước cả khi chúng được đặt tên, xuất hiện trong giai đoạn phát triển của thời kỳ thực dân và trước đó nữa. Trong bài nghiên cứu “Cách tiếp cận lịch sử về các vùng kinh tế ở những nền kinh tế mới nổi”, bà Giacomin chỉ ra những ưu điểm của vùng kinh tế, đồng thời đề xuất một cái nhìn rộng và xa hơn về các vùng kinh tế và vai trò của chúng đối với từng nền kinh tế đang phát triển nói riêng và đối với tiến trình toàn cầu hóa nói chung.
“Khái niệm vùng kinh tế thường được sử dụng để đánh giá các nhân tố địa phương”, Giacomin cho biết, “nhưng, có một nhận thức ngày càng lớn rằng, nhiều vùng kinh tế cũng được thúc đẩy bởi các nguồn lực bên ngoài, chẳng hạn như đầu tư trực tiếp nước ngoài và các tập đoàn đa quốc gia, dẫn đến một sự liên kết thông qua hoạt động trao đổi kinh nghiệm ở cấp độ địa phương hay trong những mạng lưới rộng lớn giữa các vùng kinh tế.”
Từ đó, bà Giacomin cho biết, các vùng kinh tế đã trở thành nền tảng cho sự phát triển, mang một hàm ý hiện đại về sự hợp tác giữa các doanh nghiệp, các chính phủ, và các cá nhân riêng lẻ, đặt biệt là trong những nền kinh tế mới nổi.
Phân tích ngành cọ dừa và du lịch sinh thái
Bà Giacomin dẫn ra hai trường hợp rất riêng biệt để phân tích hiện tượng kinh tế vùng, thứ nhất là xem xét tiến trình phát triển của những vùng trồng cao su và cọ dừa ở khu vực Đông Nam Á từ năm 1900 đến 1970, và tiếp đến là xem lại nghiên cứu gần đây về sự trỗi dậy của vùng du lịch sinh thái ở Costa Rica trong giai đoạn 1940 – 2000.
Là ngành trồng trọt khai thác sức lao động thô sơ, lĩnh vực trồng cao su và cọ dừa ở Indonesia và Malaysia không thể được xem là một động lực khai hóa cho xã hội, ít nhất là ở giai đoạn khởi đầu. Sau khi các đồn điền cao su của doanh nghiệp nước ngoài đã phát triển trong khu vực, các hộ sản xuất nông nghiệp nhỏ đã tận dụng sự phát triển của cơ sở hạ tầng để trồng cao su ở rìa của những cách rừng, tạo ra một nguồn cung cao su song song với nguồn cung từ đồn điền của doanh nghiệp nước ngoài. Hiện tượng này làm cho giá nguồn cung giảm mạnh trên thị trường quốc tế, kết quả là, các doanh nghiệp nước ngoài dần chuyển hướng sang trồng cọ dựa – một ngành trồng trọt đòi hỏi vốn đầu tư lớn, và khó cho các hộ nông dân nhỏ tiếp cận hơn.
Bà Giacomin cho biết động lực địa chính trị cũng có một phần đóng góp vào sự phát triển của ngành cọ dừa. Sau Thế chiến thứ II, chính quyền cộng sản của Indonesia đã có những biện phát quyết liệt để chống lại lợi ích kinh doanh theo chủ nghĩa thực dân, trong khi chính quyền Malaysia chọn một cách tiếp cận nhẹ nhàng hơn, cho phép các doanh nghiệp lớn tiếp tục hoạt động. Đổi lại, các doanh nghiệp này phải tổ chức những chương trình đào tạo và phát triển, nhằm hỗ trợ các hộ nông nhỏ chuyển từ trồng cao su sang cọ dừa. Bởi vì ngành cao su lúc bấy giờ, với sự ra đời của sợi tổng hợp nhân tạo, đã không còn tạo ra lợi nhuận và thu hút được sự đầu tư như nó đã từng. Unilever từng là chủ đầu tư và là nhà mua hàng lớn nhất trong ngành cọ dừa (dùng làm nguyên liệu sản xuất cho thương hiệu xà bông nổi tiếng “Sunlight” và những sản phẩm khác). Công ty này đã đa dạng hóa các nguồn đầu tư của mình, từ những cánh đồng tự nhiên ở Tây Phi đến những vùng trồng cọ dừa ở Malaysia. Bà Giacomin viết, trong những năm 1950 và 1960, hai khu vực trên đã chia sẻ cho nhau kinh nghiệm về sản xuất cọ dừa, mặt dù đây là hai thị trường đang cạnh tranh lẫn nhau về thị phần – một cuộc cạnh tranh mà cuối cùng Malaysia đã chiến thắng, nhờ vào hệ thống chính trị ổn định và những thể chế có chất lượng cao hơn.
“Bởi vì chính phủ Malaysia đã làm tốt các công tác xây dựng chính sách, nhằm thúc đẩy chuyển đổi sản xuất từ ngành cao su sang ngành cọ dừa, nên người dân địa phương mới có thể biến thách thức thành cơ hội”, bà Giacomin cho biết.
Dù nói như vậy, bà cũng thừa nhận rằng, ngành cọ dừa ngày nay có thể được xem là nguyên nhân chính cho nạn phá rừng ở khu vực Đông Nam Á, và không phải lúc nào cũng đi đầu trong lĩnh vực sản xuất bền vững. “Có thể sẽ mất một khoảng thời gian để cái thiện những tiến trình khai thác, và tôi nghĩ rằng ngành cọ dừa đang đi theo hướng đó. Nhưng, trong giai đoạn những năm 60 và 70, vùng trồng cọ dừa từng là lực đẩy khổng lồ cho tăng trưởng kinh tế và cơ sở hạ tầng ở những khu vực nông thôn. Có nhiều cách để thay đổi một ngành sản xuất, chuyển từ khai thác thành sản xuất ngoại vi, nhằm thúc đẩy sự phát triển.
Trong trường hợp của ngành du lịch sinh thái ở Costa Rica, bà Giacomin xem lại những phân tích trước kia của Giáo sư Geoffrey Jones ở Trường Quản trị Kinh doanh Harvard và cộng sự - ông Andrew Spadafora. Bài nghiên cứu miêu tả chi tiết cách những thể chế giáo dục đã thu thập và phổ biến kiến thức về hệ sinh thái đa dạng của đất nước. Nhờ những nỗ lực đó, cùng với sự hỗ trợ của chính phủ, đã dẫn đến sự ra đời của những công viên và khu bảo tồn quốc gia.
Tương tự như Malaysia, tính tương đối ổn định của hệ thống chính trị ở Costa Rica, so với hàng xóm Guatemala và Nicaragua, đã giúp tạo ra những điều kiện cạnh tranh cho hoạt động kinh doanh. Du khách nước ngoài từ Châu Âu và Bắc Mỹ, bị thu hút bởi những quảng bá về môi trường hoang sơ, đã chuyển địa điểm du lịch đến Costa Rica. Quốc gia này đã triển khai các chương trình kinh doanh cung cấp chỗ ở và hướng dẫn du lịch đến những khu vực bảo tồn, một nỗ lực từng rất thành công nhưng cũng tạo ra những hiệu ứng có hại.
Bà Giacomin nhận định “chính sách này đã tạo dựng danh tiếng cho Costa Rica, như một thiên đường tự nhiên và trung tâm bảo tồn”. “Đồng thời, các doanh nghiệp địa phương cũng đã lợi dụng thương hiệu này để xây dựng những cơ sở thuần về du lịch, không đi đôi với việc bảo tồn thiên nhiên. Một số doanh nghiệp đã làm suy yếu khái niệm bền vững mà khu vực đã định hướng lúc ban đầu.”
Xét trên khía cạnh lịch sử
Bà Giacomin tiếp tục nhận xét “khía cạnh lịch sử là rất quan trọng, bởi vì bạn hiếm khi có được một câu chuyện xuyên suốt từ đầu đến cuối”, ghi nhận sự liên quan của các trường đại học, các tác nhân chính phủ, và các doanh nghiệp. “Câu chuyện về kinh tế vùng không phải chỉ của riêng ai”.
Bà nói rằng, nếu nhìn xa hơn, có thể dễ dàng nhận thấy các vùng kinh tế không hoạt động tách biệt và địa phương hóa mà đóng những vai trò như một không gian tương tác, giúp thúc đẩy sự liên lạc và hợp tác giữa các tổ chức địa phương,tổ chức nước ngoài và các cá nhân, kết nối tiến trình hội nhập của những quốc gia đang phát triển vào nền kinh tế thế giới.
Đây cũng là một hiểu biết hữu ích cho giai đoạn hiện tại
“Đây có thể là một cách hiệu quả để những tập đoàn đa quốc gia và những người làm kinh doanh cân nhắc các điểm nội trội giữa các vùng kinh tế cạnh tranh với nhau”, bà Giacomin nói. “Nếu tôi là một nhà sản xuất rượu vang sạch, với những nguồn tài nguyên và nhân công có sẵn, đâu là nơi tốt nhất để tôi đặt cơ sở sản xuất? Đâu là nơi có rủi ro pháp lý thấp nhất, liên quan đến những quy định dành do doanh nghiệp hay một ngành cụ thể? Địa điểm nào sẽ cho phép thúc đẩy khả năng sáng tạo hoặc phát triển bền vững?”
Bà Giacomin nhận định vẫn còn rất nhiều đề tài để nghiên cứu khi xét đến lý thuyết vùng kinh tế. Ví dụ, phần lớn sản lượng Lithium trên thế giới – một loại vật liệu dùng để chế tạo nhiều sản phẩm điện tử và pin cho xe hơn, do đó nhu cầu về nó cũng rất cao – đang được khai thác tại Bolivia và Chile.
“Vùng kinh tế sẽ tập trung những điểm riêng biệt những nơi khác không có”, bá nói. Và các điểm riêng biệt đó - về chính phủ, ngành sản xuất, các doanh nghiệp, và cư dân địa phương - sẽ tạo ra cái nhìn mới về vùng kinh tế, một khái niệm đã tồn tại từ rất lâu rồi.
Bà Giacomin nói “chẳng phải là các vùng kinh tế đã ra đời từ rất lâu rồi sao?”. “Đây chỉ là một cách suy nghĩ “toàn cầu” về một khái niệm vốn đã tồn tại ở khắp nơi”.
Tác giá: Julia Hanna
Nguồn: Forbes - HN
Từ khóa: Vùng kinh tế, toàn cầu hóa, Đông Nam Á, ASEAN, sản xuất, thương mại
Các tin khác
- Thương mại toàn cầu trước làn sóng bảo hộ - 23/10/2017
- Trung Quốc đang âm thầm định hình lại thế giới - 23/10/2017
- ASEAN tạo ra các cơ hội hợp tác thông qua cửa ngõ Singapore - 23/10/2017
- Nam Phi thất bại trong việc tận dụng FTA để tiếp cận thị trường khổng lồ EU - 23/10/2017
- Thỏa thuận nguyên tắc của TPP có khả năng được công bố vào tháng 11 - 23/10/2017






















