
Steve Bannon cho rằng, hệ thống kinh tế Mỹ hoạt động dựa trên nền tảng của chủ nghĩa bảo hộ - “Nếu điều đó đúng vào thế kỷ 19 thì bây giớ nó cũng đúng, phải không nào?” Đây là một lập luận khá thú vị, và lập luận này chỉ vướng phải một vấn đề duy nhất. Đó là: nó hoàn toàn sai.
Nếu chủ nghĩa bảo hộ là một chính sách kinh tế hiệu quả, thì toàn bộ 11 tiểu bang bị phong tỏa ở phía nam Hoa Kỳ đã có thể phát triển mạnh mẽ trong cuộc Nội chiến. Nhưng lịch sử đã không diễn ra như vậy (các bang phía nam đã thất bại trong cuộc Nội chiến Mỹ). Cuba cũng lẽ ra phải trở nên cực kỳ giàu có, khi mà nền kinh tế quốc gia này được bảo hộ tuyệt đối khỏi sự cạnh tranh của cường quốc Hoa Kỳ. Những kỹ năng quan sát cơ bản cũng có thể giúp chúng ta nhận thấy được nhiều lỗ hỏng ẩn sau lập luận của ông Bannon.
Bannon đã đưa ra quan điểm của mình trong chương trình phỏng vấn “60 phút mở”. Doug Irwin, một người ủng hộ tự do thương mại, đã đề cập về các quan điểm của ông Bannon trên tờ Wall Street Journal. Nhưng chúng ta có thể và cũng cần phải phân tích sâu hơn quan điểm đó. Như Paul Krugman (một người ủng hộ tự do thương mại khác, dễ dàng nhận thấy trong các bài báo của ông đăng trên tờ New York Times) từng phân tích những ý tưởng cơ bản về một nền kinh tế định hướng chủ nghĩa quốc gia, dựa trên các ý tưởng của Friedrich List – các ý tưởng đã được chứng minh là sai lầm từ một thế kỷ trước.
Hơn thế nữa, những phản bác của Bannon về sự kiện ở thế kỷ 19 và bằng chứng mà ông ta đưa ra không cho chúng ta thấy những gì giống như ông ta nghĩ. Đúng là nền kinh tế Mỹ đã tăng trưởng trong suốt giai đoạn đó, và đúng là có sự tồn tại của thuế quan. Cũng đúng là nền kinh tế đã tiếp tục tăng trưởng sau cuộc Nội chiến, cùng lúc với việc gia tăng về thuế quan. “Tăng trưởng kinh tế và tăng thuế” – Ông Bannon phải chăng cũng có lý về mối liên hệ giữa hai vấn đề này?
Không, bởi vì không phải chỉ mỗi thuế quan là nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động thương mại. Mà nhân tố ảnh hưởng chung nhất chính là tổng chi phí cho việc thực hiện hoạt động thương mại.
Bất kể tồn tại bao nhiêu rào cản thương mại, chỉ có tổng chi phí tạo bởi các rào cản đó là ảnh hưởng trực tiếp đến số lượng hoạt động thương mại đang diễn ra. Chúng ta có thể lấy các rào cản phi thuế quan làm một ví dụ, thông qua một sự kiện mà cựu Tổng thống Pháp Francois Mitterrand từng phân tích rõ. Các đầu máy ghi băng Video (VCR) của Nhật đã từng xuất hiện tràn ngập trên thị trường Pháp, gây thiệt hại cho các nhà sản xuất điện tử nội địa hàng đầu của quốc gia này. Vậy nên, người Pháp đã quy định, các máy VCR chỉ có thể được nhập khẩu thông qua cửa khẩu Poitiers, một cảng nội địa ven sông thuộc thành phố Poitiers, nơi các tàu đi biển cỡ lớn không thể đến được, và nhân viên hải quan thì không được đào tạo để xử lý các thủ tục với máy VCR nhập khẩu. Đây chính là một rào cản phi thuế quan.
Sự thay đổi của chi phí vận chuyển
Hai chi phí lớn nhất của hoạt động thương mại, thứ nhất dĩ nhiên chính là thuế quan, và kế đến là chi phí vận chuyển. Vào cuối thế kỷ 19, sự cải tiến từ các loại tàu biển chạy bằng động cơ hơi nước đã giúp giảm thiểu rất nhiều chi phí vận chuyển, nhiều hơn cả mức thuế quan tăng thêm. Hiện vẫn đang có những tranh luận về việc tổng chi phí thương mại đã được giảm bao nhiêu, chỉ một ít hay rất nhiều. Nhưng, có một điều không phải bàn cãi, đó là chi phí ròng đã giảm. Và vì thế, sự tăng trưởng kinh tế trong giai đoạn cuối thế kỷ 19 cũng là minh chứng cho những gì sẽ xảy ra nếu chi phí thương mại và các rào cản được cắt giảm, kể cả khi đúng là thuế quan đã tăng trong giai đoạn đó.
Vì vậy, bằng chứng quan trọng mà ông Bannon dẫn ra tại đây, rằng tăng trưởng kinh tế được tạo ra từ bảo hộ thuế quan, là hoàn toàn sai. Tăng trưởng chỉ bùng nổ khi tổng chi phi thương mại được cắt giảm. Đưa ra giả thuyết dựa trên những bằng chứng chọn lọc chủ quan là một ý tưởng sai lầm.
Tất cả những vẫn đề trên cũng đưa chúng ta đến hiện tại. Chi phí vận tải hàng không ngày nay vào khoảng 2 USD cho 1kg hàng hóa, có thể thấp hơn khi vận chuyển với khối lượng lớn. Một container có thể vận chuyển 36 tấn hàng đủ loại đến bất cứ đâu, với chi phí khoảng 5000 USD hoặc thấp hơn, đây là lý do tại sao một chai nước khoán từ Fiji có thể xuất hiện trên các kệ trong siêu thị ở Mỹ. Tuy là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến giá cả sản phẩm, chi phí vận chuyển đã giảm xuống đến mức mà người ta chẳng còn quan tâm. Thực ra, Apple đã vận chuyển Iphone ra khỏi Trung Quốc bằng đường không bởi vì như thế vẫn rẻ hơn so với chi phí chờ đời một chuyến tàu vận tải biển 30 ngày.
Sự cắt giảm trong chi phí thương mại này đồng nghĩa với việc, chúng ta phải tăng thuế đến một mức độ vô lý để có thể đưa hoạt động thương mại trở về trạng thái bị bảo hộ như những năm 1970 (Thời kỳ Chiến tranh Lạnh), chứ đừng nói là những năm 1870 – điều mà chắc chắn chúng ta sẽ không làm.
Sẽ không ai ủng hộ một mức thuế trung bình từ 40 tới 50%. Công chúng chỉ đơn giản là không đủ sức gánh chịu mức thuế đó.
Ngộ nhận cơ bản ở đây xuất phát từ sự hiểu sai về lịch sử. Tổng chi phí cho hoạt động thương mại mới là quan trọng, không phải chỉ riêng hàng rào thuế quan. Những chi phí đó đã sụt giảm đáng kể trong giai đoạn sau Nội chiến, và nền kinh tế đã tăng trưởng một cách bùng nổ. Lịch sử không cho chúng ta thấy những gì mà người ta nghe được từ ông Bannon.
Tác giả: Tim Worstall – thành viên Viện nghiên cứu Adam Smith
Nguồn: Washington Examiner – HN
Từ khóa: sai lầm, Steve Bannon, những người theo, chủ nghĩa bảo hộ, tự do thương mại, thuế quan
Các tin khác
- Anh nên “quên đi” EU lỗi thời để tìm kiếm các đối tác thương mại mới - 26/09/2017
- Sự ủng hộ cho thương mại tự do đã “xói mòn” - 26/09/2017
- Hiểu lầm về toàn cầu hóa và sự thật về chuỗi cung ứng - 26/09/2017
- Xu hướng toàn cầu hóa không kết thúc, nó chỉ đang thay đổi. - 26/09/2017
- Vấn đề sở hữu trí tuệ trong "TPP-11" - 25/09/2017






















