
Philippines đã trở thành một chiến trường đối với sản phẩm sinh học biến đổi gen (GMOs), giữa một bên là các hộ nông dân, những người ủng hộ canh tác hữu cơ và một bên làchính phủ Philippines với nhiều nhà khoa học ủng hộ sinh vật biến đổi gen.
Chính phủ Philippines thể hiện sự ủng hộ chủ nghĩa tự do mới của các tập đoàn công nghệ sinh học xuyên quốc gia và Tổ chức Thương mại Thế giới, trong đó bảo vệ quyền lợi của các tập đoàn bằng việc việc chấp thuận nhập khẩu 60 loại cây trồng biến đổi gen và sản phẩm thực vật biến đổi gen để sử dụng trực tiếp làm thực phẩm và thức ăn chăn nuôi hoặc dùng cho quá trình chế biến.Thêm vào đó,Philippines cũng nhập 8 giống cây trồng GM để nhân giống, và 21 giống cây trồng biến đổi dùng để thí nghiệm thổ nhưỡng ở Philippines. Đáng báo động là bất chấp những lo ngại về tác động của ngô BT đối với môi trường, chính phủ vẫn cho phép trồng 750.000 hecta loại ngô này. Theo phát ngôn viên của tổ chức Hoà bình Xanh Đông Nam Á, Daniel Ocampo, chính phủ Philippines đã không từ chối sử dụng bất kỳ GMO nào, đây là điều rất gây sốc và đáng báo động trước những tranh cãi về việc sử dụng chúng. Với tất cả những hành động trên, Philippines đã trở thànhnước có số lượng cây trồng GMO đã được phê duyệt của chính phủ dùng cho người, thức ăn gia súc, nhân giống, và thử nghiệm thổ nhưỡng, nhiều nhất trong khu vực Đông Nam Á.
Các cây trồng và sản phẩm GMOs được phê duyệt là ngô, đậu tương, khoai tây, củ cải đường, cải dầu, và cỏ alfalfa. Mục đích của các thay đổi gen di truyền là cho các loại cây trồng kháng được sâu bệnh và thuốc diệt cỏ, làm chậm quá trình chín, và nâng cao giá trị dinh dưỡng của chúng. Một trong những kết quả đáng chú ý nhất và có mức kháng sâu bệnhtốt nhất trong thử nghiệm là giống lúa vàng, được biến đổi gen nhân tạo và đưa thêm gen của một loại vi khuẩn và ngô để sản xuất ra vitamin A - beta carotene, tiền chất của vitamin A.
Tháng 8 năm 2013, khoảng 400 nông dân Philippines đã xông vào khu vựctrồng thử nghiệm lúa vàng ở Pili, Camarines Sur và nhổ bỏ hết số lúa vàng biến đổi gen thử nghiệm này. Những người nông dân, các thành viên của liên minh chống GMO SIKWAL-GMO cho rằng nông dân không có lợi ích gì, cây lúa vàng sẽ tác động xấu tới lúa bản địa và gây rủi ro đối với sức khỏe cộng đồng và môi trường.
Lợi ích thực sự của giống lúa vàng và cây trồng GMO khác
Tại sao nhiều người lại quyết liệt chống GMOs? GMOs có thực sự là giải pháp cho nạn đói và an ninh lương thực? Các nhà khoa học ủng hộ GMO, tất nhiên, sẽ nói rằng GMOs là cách để giải quyết nạn đói, suy dinh dưỡng và vấn đề an ninh lương thực. GMOs có thực sự là tốt cho sức khoẻ và gây hại cho môi trường hay không?
Walden Bello (2013) đã đưa ra các lý do phản đối GMOs trong nghiên cứu của mình có tên "Manila mở cửa cho GMO". Đầu tiên, kỹ thuật di truyền sẽ phá vỡ cấu trúc sắp xếp của chuỗi di truyền của thực phẩm và làm rối loạn các chức năng của gen lân cận, do đó có thể làm phát sinh các phân tử độc hại có khả năng gây dị ứng hoặc thậm chí thay đổi các giá trị dinh dưỡng của thực phẩm sản xuất. Ngô Bt biến đổi gen đầu tiên được phép trồng ở Philippine, có đặc tính kháng sâu bệnh vì nó có chứa các gen của một loại vi khuẩn có thể chống lại sâu bệnh, hoặc độc tố Bt. Độc tố Bt này gần đây đã được phát hiện trong máu của phụ nữ mang thai và trẻ sơ sinh, với những hậu quả chưa được kiểm chứng.
Lý do thứ hai liên quan đến ô nhiễm di truyền. Một khi được trồng, loại cây biến đổi gen có thể tái sản xuất thông qua sự thụ phấn và tương tác gen với giống cây tự nhiên trồng cùng, tạo ra những gì được gọi là ô nhiễm di truyền. Ở Oaxaca, Mexcio, tình trạng ngô Bt (Bacillus thurengiensis) đã làm ô nhiễm giống ngô bản địa đã được đưa lên tạp chí Nature, một trong những tạp chí khoa học hàng đầu thế giới.
Lý do thứ ba, sinh vật GMO có thể tác động độc hại hoặc gây chết các sinh vật sống khác khi đưa nó vào môi trường tự nhiên. Một ví dụ khủng khiếp của việc này là ngô Bt đã tiêu diệt các ấu trùng của loại bướm vua, khiến nhiều người lo ngại, chỉ vì một lý do tốt, mà nhiều thực vật tự nhiên khác và đời sống động vật có thể bị tác động theo cùng một cách.
Lý do thứ tư, các tập đoàn công nghệ sinh học xuyên quốc gia như Monsanto và Syngenta, nơi phát triển và bán hạt giống và các loại cây trồng biến đổi gen, đã quá đề cao lợi ích của GMOs mà quên đi các rủi ro về sức khỏe và môi trường và các tác hại gây ra cho các sinh vật khác. Thực tế là các loại cây trồng biến đổi gen phổ biến nhất đều có một trong hai đặc tính đó là kháng sâu bệnh bằng các gen của trực khuẩn Bacillus thurengiensis hoặc được thiết kế để kháng thuốc diệt cỏ có thể làm cho mọi người sợ hãi tác hại của nó đối với sức khỏe và môi trường từ việc trồng và tiêu dùng loại cây trồng kháng sâu bệnh hay kháng thuốc diệt cỏ. Hơn nữa, người ta cũng đã chứng minh được rằng các loại côn trùng đang nhanh chóng biến đổi để đề kháng với Bt cũng như thuốc diệt cỏ. Kết quả là cây trồng thậm chí còn bị phá hoại nhiều hơn bởi các loại côn trùng biến thể mới. Cũng không có bằng chứng đáng kể rằng cây trồng GM có khả năng sinh tồn cao hơn các cây trồng thông thường. Thay vào đó, các loại cây trồng biến đổi gen chắc chắn sẽ sử dụng nhiều thuốc trừ sâu hơn, do đó nó có hại cả cho con người lẫn môi trường.
Một lập luận thứ năm và rất nặng ký là việc bằng sáng chế độc quyền cho hạt giống GMO chỉ nằm trong tay của một vài tập đoàn công nghệ sinh học, đây là điều không có lợi cho các hộ nông dân nhỏ. Những tuyên bố của 81 thành viên của Hội đồng tương lai thế giới mô tả hậu quả thảm khốc từ việc bằng sáng chế độc quyền hạt giống GMO bằng những từ sau:
Lợi nhuận chỉ tập trung vào một số ít công ty sản xuất ra chúng, hạt giống GMO tạo ra một mô hình canh tác mà không đếm xỉa đến sự bền vững của nông dân nghèo, những người chiếm đa số trên thế giới. Hạt giống biến đổi gen tiếp tục bắt người nông dân phải phụ thuộc giống và hoá chất đầu vào. Các tác động mạnh mẽ nhất của sự phụ thuộc đó là ở Ấn Độ, từ năm 1995 đến 2012 đã có 270.000 nông dân nghèo tự sát do bị mắc kẹt trong nợ nần để mua hạt giống và các hóa chất.
Tổ chức môi trường quốc tế Hoà bình Xanh cho rằng thay vì giải quyết các vấn đề của đất nước về an ninh lương thực, việc nhân rộng GMOs ở Philippines sẽ dẫn đến cuộc khủng hoảng lương thực do yếu tố đầu vào do các loại cây trồng này hoàn toàn bị lệ thuộc vào sự độc quyền của các tập đoàn hoá chất nông nghiệp khổng lồ (InterAksyon.com, 2012). Daniel Ocampo, nhà vận động nông nghiệp và kỹ thuật di truyền bền vững của Greenpeace, cho biết trong một tuyên bố đưa ra hưởng ứng Ngày Lương thực Thế giới 16 tháng 10 năm 2012 như sau: "Bằng việc tìm cách kiểm soát các hệ thống thực phẩm bằng cây trồng gen từ hạt giống cho đến bàn ăn, các tập đoàn GMO đang dồn nông dân Philippine vào chân tường bằng cách thúc đẩy sự phụ thuộc của họ vào đầu vào hóa chất công nghiệp như thuốc trừ sâu độc hại và thuốc diệt cỏ. "(InterAksyon.com, 2012) cho biết thêm rằng sự phụ thuộc của nước này vào nguồn cung cấp từ các tập đoàn GMO sẽ "buộc nông dân vào một vòng luẩn quẩn không bao giờ có lối ra về nợ nần và không có sự lựa chọn hạt giống hoặc cây trồng."
Điều này được nhắc lại bởi Bert Autor, phát ngôn viên của SIKWAL-GMO (Bikol sáng kiến chống biến đổi gen), khi ông cho rằng, nông dân ở Bikol, một tỉnh ở phía bắc của Philippines, không muốn lúa vàng là vì nó sẽ mở đường cho GMOs tràn vào và buộc các nông dân phải mắc nợ nhiều hơn. Ông ủng hộ mạnh mẽ rằng nông dân Philippine nên bảo vệ hạt giống quý báu của mình. Autor (như trích dẫn ở Tickell, 2014) giải thích rằng người nông dân phải gánh chịu các khoản nợ lớn do chi phí sản xuất cao và sự phụ thuộc vào nguồn giống hiện đại và yếu tố đầu vào sản xuất khác như phí thủy lợi, phân bón, thuốc trừ sâu và máy móc, lao động, hạt giống, tiền thuê đất…vv. Đối với Autor, sự ra đời của giống lúa vàng là mưu đồ nhằm tìm cách kiểm soát thêm những hạt giống khác được trồng bởi các hộ nông dân nhỏ ở Philippines và bòn rút lợi nhuận của nông dân. Đây là những lý do họ kịch liệt phản đối sự ra đời của lúa vàng ở Bicol.
GMOs và quan hệ giữa bộ ba: Chính phủ, học viện, và các tập đoàn
Bello (2013) đã xác định một lý do quan trọng để chính phủ Philippine mở cửa với GMOs là quan hệ khuất tất giữa bộ ba: Chính phủ, học viện, và các tập đoàn. Ông trích dẫn ví dụ rằng ba trong số các giám đốc gần đây nhất của một Viện uy tín của Trường Đại học Giống cây trồng tại Philippines đã hoặc tham gia vào các tập đoàn đa quốc gia công nghệ sinh học hoặc làm việc cho các dự án được các tập đoàn này tài trợ. Ngoài việc có chân trong các tập đoàn đa quốc gia, họ cũng phục vụ như là thành viên hoặc cố vấn cho các cơ quan chính phủ giám sát an toàn sinh học. Như vậy, mối quan tâm thực sự cho hoàn cảnh của nông dân nghèo ở Philippines, sức khỏe con người, môi trường và tính toàn vẹn được che đậy bằng cái danh khoa học sáng tạo, phát triển nghề nghiệp, và tiến bộ không rõ ràng.
Vòng xoay giữa chính phủ, học viện, và các tập đoàn đa quốc gia quay trở lại vấn đề tự do hóa kinh tế của Philippines trước đây khi nó trở thành thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới vào năm 1995 (Trung tâm nghiên cứu và Ngân hàng dữ liệu IBON, 2005). Tự do hóa, chủ nghĩa thực dân, và chủ nghĩa thực dân mới không cùng tồn tại trong trường hợp của Philippines. Việc áp đặt các chương trình điều chỉnh cơ cấu (SAP) của Quỹ Tiền tệ Quốc tế và Ngân hàng Thế giới đầu năm 1980 đã tăng cường và mở rộng tự do hóa thương mại và đầu tư nhằm mang lại lợi ích cho nhà đầu tư nước ngoài nói chung. Pháp luật cụ thể và quy tắc hành chính cũng như một số luật quốc gia đã được sửa đổi phù hợp với khuôn khổ kinh tế tân tự do của đất nước. Những quy định này bao gồm việc loại bỏ hạn chế nhập khẩu đối với các sản phẩm như gạo, ngô, thịt, cà phê, khoai tây, tỏi, bắp cải, hạt, than đá và các sản phẩm dầu mỏ, xe tải cũ và lốp xe, kháng sinh, tôm thẻ và tôm hùm sống,..vv. Kể từ năm 1981, chính phủ Philippine đã thực hiện cải cách thương mại phù hợp với khuôn khổ tự do kiểu mới như cắt giảm thuế quan, loại bỏ các rào cản phi thuế quan và thuế hoá các hạn chế hạn ngạch.
Việc cắt giảm thuế quan là rất có hại cho ngành công nghiệp và nông nghiệp trong nước. Hơn thế nữa, công ăn việc làm tại địa phương cũng sẽ gặp nguy hiểm vì nó mở cửa cho hàng hóa nhập khẩu. Với việc tự do thương mại nông nghiệp được thực hiện bởi chính phủ Philippines bởi lệnh của các tổ chức tài chính quốc tế và WTO, nông nghiệp Philippine vẫn rất yếu và thiếu tính cạnh tranh và đặt các nhà sản xuất nhỏ vào thế bất lợi. Chính phủ Philippines nghĩ rằng gia nhập WTO vào năm 1995 sẽ giúp lĩnh vực nông nghiệp được hưởng lợi từ việc tăng cường tiếp cận thị trường nước ngoài và mở rộng thương mại toàn cầu trong nông nghiệp. Tuy nhiên, tham gia vào các chính sách thương mại toàn cầu của WTO nhiều hơn đã dẫn đến thị trường trong nước tràn ngập với hàng nhập khẩu nông sản trong khi hàng nông sản của Philippines vẫn không thể thâm nhập vào thị trường của các nước phát triển. Tăng trưởng nhập khẩu vượt xuất khẩu, dẫn đến thâm hụt thương mại triền miên. Trung tâm nghiên cứu và Ngân hàng dữ liệu IBON báo cáo trong năm 2005 rằng sự sụt giảm năng suất nông nghiệp và sự bùng nổ của hàng nhập khẩu tàn phá sinh kế của nông dân và kinh tế nông thôn, đặc biệt là nông dân sản xuất lúa gạo, rau và chăn nuôi quy mô nhỏ, những người sản xuất cho thị trường trong nước, từ đó đưa vấn đề an ninh lương thực của đất nước lâm vào tình trạng nguy hiểm (p. 157). Bên cạnh đó, WTO với các tổ chức tài chính quốc tế như IMF và Ngân hàng Thế giới đang thúc đẩy chương trình cải cách ruộng đất theo hướng thị trường mà tái tập trung đất nông nghiệp vào tay tư sản - địa chủ và các đối tác kinh doanh xuyên quốc gia của họ.
TRIPS gây nguy hiểm cho vấn đề phân phối lương thực toàn cầu
Hơn nữa, Hiệp định về các khía cạnh liên quan đến thương mại của quyền sở hữu trí tuệ (TRIPS) gây nguy hiểm cho vấn đề phân phối lương thực toàn cầu bởi làm trầm trọng thêm những hạn chế về thực phẩm và hạt giống, cũng như vấn đề phân phối (Trung tâm nghiên cứu và Ngân hàng dữ liệu IBON, 2005). WTO bảo vệ quyền sở hữu kinh doanh nông nghiệp đối với giống cây trồng, bao gồm hạt giống, củng cố sức mạnh của hạt giống và các tập đoàn xuyên quốc gia công nghệ sinh học để sở hữu và kiểm soát hạt giống từ nông dân. Để kiếm được quyền bằng sáng chế cây trồng, các công ty chỉ cần tuyên bố rằng họ đã thay đổi chúng, ngay cả khi thay đổi này không đáng kể. Với mục đích duy nhất là tăng lợi nhuận, các TNC công nghệ sinh học đang trong một cuộc đua phát triển, phổ biến, trồng và đưa mảng cây trồng biến đổi gen vào thế giới thứ ba hoặc các nước đang phát triển là mục tiêu chính của họ. Mặt trái của Hiệp định TRIPS bao gồm quyền sở hữu kinh doanh nông nghiệp bằng sáng chế hạt giống được thể hiện trong thực tế là nông dân địa phương phải trả phí hàng năm để sử dụng các loại hạt giống, cho dù hạt giống là sản phẩm lai tạo được tiến hành qua nhiều thế hệ bởi tổ tiên của người nông dân .
Để tăng lợi nhuận, các TNC như Monsanto đã phát triển “Những công nghệ hạn chế sử dụng gien di truyền” như công nghệ Terminator và công nghệ Traitor, theo đó hạt giống vô trùng, được gọi là "hạt giống terminator", có thể được kích hoạt để tăng trưởng chỉ bằng cách sử dụng một chất hóa học, và những hạt giống mà tất cả các cây trồng sản xuất sẽ không bao giờ nảy mầm. Như vậy, người nông dân địa phương đang bị mắc kẹt khi phải liên tục mua các hạt giống để gieo trồng và các hóa chất để làm cho hạt giống phát triển. Phương thức thực hành nông nghiệp như vậy sẽ gây hại nghiêm trọng đến đất và môi trường, khiến nhiều nông dân phải tiếp xúc với các hóa chất gây chết người, làm suy yếu các trang trại chăn nuôi do việc sử dụng thuốc trừ sâu và thuốc diệt cỏ, không thích nghi với khí hậu, và do đó không bền vững.
Theo http://www.globalresearch.ca – PT
Từ khóa: Philippines, trận chiến, chống lại, GMOs






















