JSN_TPLFW_TOGGLE_MENU
Tin tứcTổng hợp tình hình Cộng đồng kinh tế ASEAN trong tháng 9/2016

Tổng hợp tình hình Cộng đồng kinh tế ASEAN trong tháng 9/2016

AEC4

Trong tháng 9/2016, tin tức về Cộng đồng kinh tế ASEAN được thành lập cuối năm ngoái khá sôi động.

Vận hành AEC, cơ hội cho nhà đầu tư nước ngoài tại ASEAN

Trong một khảo sát do Cơ quan Thương mại và Đầu tư Liên bang Đức thực hiện, các công ty của Đức đang hoạt động ở ASEAN cho thấy họ rất hào hứng với Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC) và sẵn sàng để chiếm lĩnh thị trường. Tuy nhiên, không phải doanh nghiệp nào cũng thế…

Nhiều doanh nghiệp chưa hoạt động tại khu vực ASEAN cần đăng ký vốn cam kết nên có phần lưỡng lự trong quyết định đầu tư và các doanh nghiệp Đức đã tụt lại phía sau các đối thủ cạnh tranh khác như Nhật Bản khi các doanh nghiệp này đã thành công trong tận dụng lợi ích từ xóa bỏ thuế quan và các lợi ích khác trong khu vực.

Xét về điểm tương đồng, cả Liên minh Châu Âu (EU) và Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC) đều có mục tiêu chung trong việc xây dựng một khu vực kinh tế vững mạnh dựa vào hợp tác sâu giữa các thành viên. Hầu hết các nước thành viên ở cả hai khu vực đều có sự gần gũi về địa lý, nhưng cũng chịu sự đe dọa từ các nước lớn hơn. Quan hệ của ASEAN với Trung Quốc là một nghịch lý trong bối cảnh hiện nay. Một mặt, nhiều nước hy vọng và phụ thuộc vào các dự án đầu tư từ Trung Quốc, nhưng mặt khác, họ không muốn bị áp đảo về kinh tế. Hai khu vực đều cần phải hài hòa hơn khi có kế hoạch hội nhập khu vực sâu hơn. Về lý thuyết, cả hai khu vực đều tìm kiếm sự hòa bình, ổn định và an ninh với mục tiêu bãi bỏ các khoảng cách lớn giữa các nước thành viên. Tuy nhiên, trên thực tế, vẫn tồn tại mức độ phân hóa nhất định. Ví dụ, EU dành các quỹ đặc biệt được đóng góp để giúp các nước thành viên kém phát triển, nhưng trong ASEAN, các khoảng cách vẫn tiếp tục tồn tại, vì chưa có một cơ quan quản lý chung của khu vực như ở EU.

Mặc dù khảo sát trên được thực hiện với các công ty của Đức nhưng có nhiều yếu tố áp dụng với bất kỳ nhà đầu tư nước ngoài nào. Phần lớn các doanh nghiệp được khảo sát đều quan tâm đến tìm kiếm các cơ sở sản xuất mới hơn là các thị trường xuất khẩu mới. Các nước có chi phí sản xuất thấp truyền thống như Việt Nam, Myanmar, Campuchia và Lào đều có kết quả khảo sát, vì khá nhiều doanh nghiệp chọn Myanmar là điểm đến đầu tư. Các nước có môi trường thân thiện với nhà đầu tư chắc chắn sẽ có lợi ích gia tăng trong những năm tới.Ví dụ như Việt Nam kể từ mở cửa kinh tế và phụ thuộc vào thương mại quốc tế. Một lợi thế của Việt Nam là các nhà đầu tư nước ngoài đang hoạt động ở nước này có thể tận dụng được Hiệp định Đầu tư toàn diện ASEAN và sẽ được xem như các nhà đầu tư ASEAN để được hưởng ưu đãi của thành viên ASEAN.

Thời gian qua, ASEAN đã thực hiện bước tiến lớn khi cắt giảm thuế quan trong ASEAN thông qua thực thi AEC.Các hàng hóa được sản xuất trong khu vực và các công ty sản xuất đều hưởng lợi từ AEC.Khi một doanh nghiệp đặt trụ sở và sản xuất hàng hóa ở một nước thành viên ASEAN có thể tận dụng lợi thế của thuế quan được cắt giảm trong khu vực này.Tuy nhiên, để hưởng lợi, hàng hóa phải tuân thủ các yêu cầu về quy tắc xuất xứ.Hiện nay, các quy tắc xuất xứ quy định rằng ít nhất 40% nguyên liệu được sử dụng trong sản xuất hàng hóa phải có nguồn gốc từ trong ASEAN. Các nhà đầu của Đức có thể ký kết hợp đồng sản xuất với một nhà đầu tư ở một nước như Việt Nam, tận dụng lợi thế kinh tế theo quy mô và nguồn nguyên liệu giá rẻ từ các nước ASEAN khác, sau đó xuất khẩu sản phẩm cuối cùng được ưu đãi thuế sang các nước ASEAN khác và các đối tác thương mại tự do khác.

Ngoài thương mại trong khu vực, các nhà đầu tư liên kết có thể tiếp cận các hiệp định thương mại mà ASEAN đã ký kết với bên thứ ba, như FTA ASEAN- Trung Quốc (ACFTA), FTA ASEAN- Hàn Quốc (AKFTA), Hiệp định Đối tác kinh tế toàn diện ASEAN- Nhật Bản (AJCEP), FTA ASEAN-Úc- Niu Dilan (AANZFTA), FTA ASEAN- Ấn Độ (AIFTA). Sản xuất hàng hóa và dịch vụ “tại chỗ” không chỉ giảm chi phí mà còn gia tăng cơ hội giữ khách hàng và các đối tác trong khu vực. Xu hướng đầu tư này cho thấy việc phát triển sản xuất thông qua thúc đẩy nghiên cứu và phát triển sẽ thúc đẩy nhu cầu tiêu dùng. Nhiều công ty muốn thuê lao động “tại chỗ”, nhất là khi hầu hết dân số của ASEAN đều là dân số trẻ và chỉ cần đào tạo thêm các kỹ năng cần thiết. Ngay cả khi thuế quan và các rào cản khác được cắt giảm, các nhà đầu tư cũng nhận thức rằng việc gia tăng sử dụng các rào cản phi thuế quan là một cách thức của chủ nghĩa bảo hộ.Ở nhiều nước ASEAN, các tiêu chuẩn quốc gia khác nhau tạo nên khó khăn cho thương mại mở rộng qua biên giới khi tính đến tiết kiệm chi phí của giảm thuế.Để đối phó với vấn đề này và các vấn đề liên quan khác, ASEAN đã đặt ra lộ trình đến năm 2025.

ASEAN vẫn là một thị trường thu hút đầu tư, đặc biệt với các công ty và các nhà đầu tư mong muốn sản xuất hàng hóa tại khu vực này. Một hàng hóa có nguyên liệu chiếm 40% xuất xứ từ các nước ASEAN sẽ hưởng lợi ích thương mại và xóa bỏ thuế quan trong AEC cũng như nhiều hiệp định FTA ASEAN+ khác. Mặc dù AEC chưa phải là nền kinh tế hội nhập đầy đủ như EU, nhưng với tăng trưởng kinh tế cao và hội nhập nhanh chóng, khu vực ASEAN vẫn có triển vọng tích cực và sẵn sàng xem xét các cơ hội dài hạn ở những nước như Myanmar.

Đầu tư công nghệ: “Chìa khóa” cho nông sản Việt sang AEC

Đã gần 10 tháng kể từ ngày Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC) được thành lập, cơ hội cho XK nông sản sang khu vực này được đánh giá còn rất lớn. Tuy nhiên, thách thức cũng không ít và đòi hỏi DN phải khẩn trương đầu tư công nghệ để nâng sức cạnh tranh cho sản phẩm.

Nhiều thách thức

Khi AEC được thành lập, cơ hội cho mặt hàng nông sản rất lớn, bởi dư địa XK của nhóm mặt hàng này còn cao.Chưa kể, khoảng cách địa lý cũng giúp nông sản tăng sức cạnh tranh so với việc phải vận chuyển đến các thị trường xa hơn.Việt Nam cũng đang tích cực tham gia Cơ chế một cửa ASEAN, giúp giảm thiểu tối đa thời gian thông quan cho hàng hóa, tạo thuận lợi lớn nhất cho DN XK.  

Lộ trình giảm thuế trong AEC cũng giúp hàng hóa gia tăng sức cạnh tranh. Theo cam kết, cuối năm 2015, đã có có 1.434/1.539 dòng thuế nông sản và thủy sản quay về mức 0%; 123 dòng thuế ở mức 5% hoặc chưa cam kết cắt giảm. Đến năm 2018, còn 55 dòng thuế giữ ở mức 5%. Với lâm sản và đồ gỗ, phần lớn trong số 149 dòng thuế đã giảm xuống mức 0%, 9 dòng thuế đồ gỗ và nội thất sẽ về 0% năm 2018. Các mặt hàng đang áp dụng hạn ngạch thuế quan (TRQ) như đường, trứng, muối và thuốc lá sẽ phải bỏ hạn ngạch trong ASEAN từ năm 2018 và sẽ áp dụng mức thuế suất 0 - 5%.

Việc cắt giảm thuế quan sẽ giúp các mặt hàng tăng cao hơn nữa sức cạnh tranh khi XK. Đơn cử, kim ngạch nhập khẩu (NK) cà phê từ Việt Nam của toàn thị trường ASEAN hiện chiếm khoảng 21% tổng số cà phê NK của thị trường này. Nhu cầu tiêu thụ cà phê cao, trong khi giá giảm theo cam kết giảm thuế của AEC sẽ giúp cà phê Việt nâng cao sức cạnh tranh so với cà phê của các quốc gia khác như: Brazil, Ấn Độ, Mexico… khi XK vào khu vực này.

Bên cạnh những thuận lợi, thách thức cũng không nhỏ, bởi lộ trình giảm thuế được thực hiện cho toàn khu vực.Nếu nông sản Việt có cơ hội XK đi các nước thì ở chiều ngược lại, nông sản của các nước cũng có thể tràn vào nước ta. Theo Bộ Công Thương, giá trị NK rau quả từ Thái Lan 7 tháng đầu năm 2016 đạt gần 163 triệu USD, chiếm 38,7% tổng kim ngạch NK rau quả của cả nước, tăng trên 70% so với cùng kỳ, làm dấy lên lo ngại sản phẩm Việt sẽ khó có thể cạnh tranh với sản phẩm cùng loại của quốc gia này ngay trên sân nhà và tại các thị trường khác.

Đầu tư để nâng sức cạnh tranh

Theo ông Trần Kim Long - Vụ trưởng Vụ Hợp tác quốc tế (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn - NN&PTNT) - với phương thức sản xuất, thiết bị, công nghệ hiện nay, sản phẩm của DN Việt khó có thể cạnh tranh với sản phẩm của các nước trong khối cả về giá và chất lượng.

Để giải quyết vấn đề này, Thứ trưởng Bộ NN&PTNT Lê Quốc Doanh nhấn manh, giải pháp quan trọng nhất là DN không ngừng đổi mới áp dụng khoa học công nghệ; phát triển các sản phẩm chủ lực gắn kết với ứng dụng công nghệ để tăng năng suất và giảm giá thành.

Đồng quan điểm này, ông Đặng Kim Khôi - Viện Chính sách chiến lược phát triển nông nghiệp nông thôn (Bộ NN&PTNT) - cho rằng, cần thúc đẩy liên kết đầu tư, kinh doanh, chuyển giao công nghệ để nâng cao sức cạnh tranh cho sản phẩm. Đó là giải pháp giúp XK nông sản bền vững sang khu vực AEC cũng như giúp hàng hóa Việt đứng vững ngay tại sân nhà.

Vì sao cần quan tâm đúng mức đến AEC?

Việt Nam gia nhập hiệp hội ASEAN từ năm 1995 nhưng đến nay, dù đã có Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC) từ cuối năm 2015, những cơ hội kinh doanh mà các doanh nghiệp (DN) tận dụng được vẫn chưa nhiều.

Những năm gần đây, tỷ lệ DN xuất khẩu vào ASEAN được hưởng ưu đãi thuế rất thấp.Chênh lệch thuế suất không nhiều, nên các DN ít quan tâm đến việc làm thế nào để được hưởng thuế suất ưu đãi.Cạnh đó, một số DN muốn tận dụng ưu đãi thuế khi xuất khẩu vào các nước khác cần có giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa (CO), lại tốn không ít thời gian, chi phí để xin được giấy tờ cần thiết.

Thực tế, các cơ quan quản lý nhà nước và DN chưa có chuẩn bị cần thiết để tận dụng cơ hội từ AEC, chưa quan tâm đến việc làm thế nào để DN đủ điều kiện hưởng các ưu đãi về thuế.AEC có một yêu cầu rất linh hoạt, đó là quy tắc xuất xứ hàng hóa gộp. Để hưởng ưu đãi thuế, theo quy định của AEC, xuất khẩu vào một nước trong Hiệp hội phải có hơn 40% giá trị sản xuất từ các nước ASEAN, nhưng khi nhập khẩu nguyên liệu đầu vào, phần lớn DN Việt Nam chưa quan tâm đến việc lấy CO.

Chính vì vậy, dù đạt tỷ lệ xuất xứ hàng hóa nhưng do không có giấy tờ để chứng minh nên khi xuất khẩu vào các nước ASEAN, DN Việt Nam vẫn không đủ điều kiện để được ưu đãi.

Xúc tiến nhập khẩu phù hợp để DN chế biến, gia công và tái xuất khẩu ra nước ngoài được hưởng các điều kiện ưu đãi là việc phải làm để nhập khẩu đóng góp được cho xuất khẩu.Tuy nhiên, tư duy này chưa được cơ quan quản lý nhà nước chú trọng, ảnh hưởng không nhỏ đến việc DN tận dụng cơ hội từ thị trường ASEAN.

ASEAN - Thành công đang bị trì hoãn

Trên thực tế, tự thân DN vẫn có lúc không xác định được thế nào là nguồn hàng phù hợp ở các nước ASEAN.DN Việt Nam phần lớn là nhỏ và vừa nên một khi không đáp ứng được yêu cầu xuất xứ hàng hóa ở trong nước thì việc tìm được các đối tác phù hợp ở nước ngoài để cung ứng nguyên vật liệu đầu vào là không dễ.Họ cũng không thể tự ra nước ngoài để tìm kiếm bạn hàng, đơn hàng bởi tài chính hạn hẹp.Trong khi các cơ quan xúc tiến thương mại gần như chỉ quan tâm đến việc thúc đẩy xuất khẩu càng nhiều càng tốt mà ít quan tâm đến xúc tiến nhập khẩu.

Trái lại, DN nước ngoài tận dụng thị trường Việt Nam rất tốt.Họ quan tâm nhiều đến việc làm thế nào đáp ứng các điều kiện xuất xứ hàng hóa, quan tâm đến chuỗi sản xuất, yêu cầu về CO.

Rõ ràng tư duy của DN Việt Nam và DN nước ngoài khác biệt khá nhiều trong việc tận dụng các ưu đãi, nhưng có một phần nguyên nhân không nhỏ xuất phát từ trách nhiệm của các cơ quan quản lý nhà trước trong việc làm thế nào để giúp DN tận dụng được các cơ hội và hưởng lợi từ AEC.

Lâu nay, các cơ quan quản lý và truyền thông phần nhiều đề cập đến kế hoạch hành động của Cộng đồng Kinh tế ASEAN đến năm 2025 mà bỏ qua kế hoạch hành động của Cộng đồng Văn hóa - Xã hội ASEAN (ASCC).

Trong khi đó, kế hoạch hành động hướng tới ASCC 2025 có những vấn đề liên quan trực tiếp đến kinh tế, như phát triển nông thôn, xóa đói giảm nghèo, an ninh lương thực, những vấn đề liên quan trực tiếp đến nông nghiệp và nông thôn của Việt Nam. Đó là một trong những thiếu sót.

AEC ra đời đã 9 tháng nhưng sự quan tâm của DN và cơ quan nghiên cứu, cơ quan quản lý nhà nước đã giảm đi, tập trung nhiều hơn đến các FTA với EU. Điều này đã ảnh hưởng đến sự chuẩn bị và thực hiện các hoạt động liên quan đến ASEAN. Quan trọng hơn, ảnh hưởng này tác động lên tư duy và nhận thức của quá trình thực hiện AEC trong bối cảnh có những hạn chế khách quan về nguồn lực, con người.

Vấn đề tận dụng cơ hội từ AEC và FTA Việt Nam - EU và một loạt hiệp định thương mại tự do khác phải được nhìn nhận trong một tổng thể, dài hạn. DN nên bắt đầu thực thi các hiệp định dễ đáp ứng, dễ thực hiện.

Sau khi nâng cao được năng lực, tích lũy được vốn thì chuyển sang các hiệp định quan trọng hơn, như FTA với EU và vài năm tới có thể là TPP. Đó là cách để DN chuẩn bị và hướng tư duy vào "cuộc chơi" dài hạn.Đó cũng là việc các cơ quan quản lý nhà nước phải quan tâm.

Xuất nhập khẩu nông sản chủ lực sẽ thế nào khi hội nhập sâu AEC?

Sau quá trình dài “thai nghén”, Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC) đã chính thức hình thành vào cuối năm 2015.Nhiều chuyên gia nhận định, hội nhập sâu vào AEC, XK một số hàng nông sản chủ lực của Việt Nam sẽ có thêm cơ hội nhất định, song không ít ngành hàng chịu bất lợi lớn với áp lực cạnh tranh cao.

Thuận lợi cầm chừng

Theo cam kết khi tham gia Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC), đối với Việt Nam, ngay trong năm 2015, trong tổng số 1.539 dòng thuế nông sản và thủy sản, có 1.434 dòng thuế về 0%; 123 dòng thuế ở mức 5% hoặc chưa cam kết cắt giảm.

Đến năm 2018: Còn 55 dòng thuế giữ mức 5% (cà phê Arabica, đường củ cải phải giảm xuống 0%) và tiếp tục duy trì 34 dòng thuế chưa cam kết cắt giảm.

Đối với mặt hàng lâm sản và đồ gỗ: 149 dòng thuế phần lớn đã giảm xuống mức 0%, chỉ còn 9 dòng sản phẩm đồ gỗ và nội thất là duy trì mức 5% năm 2015 và toàn bộ về 0% năm 2018.
Các mặt hàng đang áp dụng hạn ngạch thuế quan (TRQ) như đường, trứng, muối và lá thuốc giá sẽ phải bỏ hạn ngạch trong ASEAN từ 2018 và sẽ áp dụng mức thuế suất 0 - 5%.

Phát biểu tại hội thảo “Phát triển nông nghiệp bền vững trong hội nhập ASEAN” diễn ra ngày 15-9, tại Hà Nội, ông Đặng Kim Khôi, Viện Chính sách và Chiến lược phát triển nông nghệp nông thôn (Ipsard), Bộ NN&PTNT đánh giá: Hiện nay, hạt tiêu Việt hiện đang chiếm lĩnh tại không ít thị trường lớn trong AEC. Cụ thể, tại Malaysia (44%), Singapore (48%) và Indonesia (93%).Tham gia hội nhập sâu vào AEC, hồ tiêu là một trong những mặt hàng có cơ hội thúc đẩy XK khi nhu cầu tiêu thụ còn lớn.

Mặt hàng cà phê cũng nhận được sự ưu ái tương tự khi cà phê Việt hiện đang chiếm 42,3% tại Thái Lan, 24% tại Malaysia và 25,7% tại Indonesia. Tính tổng thể, kim ngạch NK cà phê từ Việt Nam của toàn thị trường ASEAN chiếm tới 21% trên tổng số cà phê NK. Rõ ràng, ASEAN đã, đang và ngày càng trở thành “mảnh đất” màu mỡ cho cà phê nếu biết khai thác hết tiềm năng.

Tham gia sâu vào AEC, không chỉ XK, trong quá trình NK các mặt hàng nông, lâm, thủy sản, điển hình là lâm sản, Việt Nam cũng được nhận những thuận lợi đáng kể. Hiện nay, thị trường Việt Nam thường xuyên NK gỗ nguyên liệu chủ yếu từ các nước Đông Nam Á (nhất là Lào và Campuchia), chiếm trên 49% tổng kim ngạch NK. Bất cập là gỗ từ các thị trường này phần nhiều không rõ nguồn gốc xuất xứ, không được công nhận tính hợp pháp.Điều này khiến sản phẩm gỗ XK của Việt Nam gặp khó khăn. Tuy nhiên, hội nhập sâu AEC, Việt Nam sẽ có cơ hội thúc đẩy NK gỗ nguyên liệu từ thị trường Malaysia, làm giảm những bất lợi mà sản phẩm gỗ XK đi gặp phải, bởi gỗ từ Malaysia không gặp các vấn đề về nguồn gốc gỗ hợp pháp, đáp ứng yêu cầu tại các thị trường “khó tính” như EU.

Bất lợi tăng cao           

Bên cạnh những thuận lợi cơ bản, ông Khôi cũng đã “điểm mặt” hàng loạt bất lợi đối với các ngành hàng nông, lâm, thủy sản trong hội nhập sâu AEC. Đối với mặt hàng XK chủ lực của Việt Nam là gạo, thị trường XK chủ lực trong AEC chủ yếu là Philippines (56%), Malaysia (20%) và Indonesia (14%). Thời gian qua, trong khi XK gạo sang các thị trường này được đánh giá không ghi nhận sự đột phá nào đáng kể thì Việt Nam lại gia tăng NK gạo. Cụ thể, trong giai đoạn 2000-2015, giá trị NK gạo của Việt Nam từ AEC đã tăng 25,4%/năm. Điều đáng nói là, khối lượng NK gạo không lớn, song do chủ yếu NK gạo từ ba quốc gia với giá và chất lượng cao hơn từ: Thái Lan, Philippines và Lào nên xét ra giá trị NK cũng là con số đáng kể. Xu hướng này đang ngày càng có chiều hướng tăng lên, tạo áp lực cạnh tranh gay gắt với gạo trong nước.

Bên cạnh gạo, ngành hàng rau quả được đánh giá sẽ chịu sự bất lợi cao khi hội nhập sâu AEC.Theo một số chuyên gia, Thái Lan, Myanmar là những nước nằm trong “top” 10 nước XK rau quả lớn nhất vào Việt Nam.Trên 99% sản phẩm Việt Nam NK rau quả từ Myanmar là rau (HS.07). Đối với Thái Lan, 96% sản phẩm NK là quả (HS 08), chủ yếu gồm ổi, xoài và măng cụt, chiếm 83% tổng kim ngạch NK các loại quả. Với ưu thế về chất lượng, sự phong phú chủng loại, khi thuế quan không còn là rào cản, rau quả NK sẽ tràn ngập thị trường và cạnh tranh mạnh với hàng nội địa.

Không chỉ gạo, rau quả, mía đường cũng là cái tên sẽ phải đối mặt với cạnh tranh lớn trong AEC, nhất là từ thị trường Thái Lan. “Thái Lan là quốc gia XK mía đường chính sang Việt Nam với kim ngạch XK năm 2014 đạt 29,8 triệu USD. Theo cam kết mở cửa trong ASEAN, đến năm 2018, thuế NK mía đường sẽ giảm từ 80-85% xuống còn 5% (thuế ngoài hạn ngạch).Điều này sẽ khiến đường ngoại ồ ạt vào Việt Nam, đẩy ngành mía đường vào cảnh ngày càng khó khăn” ông Khôi nói.

Về lâu dài, để có thể tận dụng tốt các cơ hội mở ra trong AEC, đồng thời từng bước khắc phục bất lợi, các chuyên gia cho rằng: Việt Nam cần đẩy mạnh hợp tác với các nước trong AEC theo hướng tiếp tục xây dựng và áp dụng các tiêu chuẩn chung về chất lượng, an toàn, thực hiện chứng nhận chung trong cả sản xuất lẫn XK các mặt hàng nông, lâm, thủy sản; đồng thời xây dựng các giải pháp thực hành sản xuất nông nghiệp tốt, áp dụng chung cho khu vực thông qua sử dụng hướng dẫn chung.

Liên quan tới vấn đề nâng cao sức cạnh tranh cho mặt hàng nông, lâm, thủy sản trong hội nhập nói chung, tham gia sâu vào AEC nói riêng, TS. Trần Gia Long, Vụ Kế hoạch (Bộ NN&PTNT) cho biết: Thời gian tới, Bộ NN&PTNT sẽ tiếp tục đánh giá tác động của chính sách thương mại hiện hành, các cam kết thương mại quốc tế nhằm thúc đẩy XK nông, lâm, thủy sản, mở rộng thị trường tiêu thụ; đề xuất ban hành Nghị định về quản lý thương mại biên mậu. Về chính sách thuế, phí, Bộ NN&PTNT sẽ rà soát, đánh giá tác động của các chính sách thuế, đề xuất điều chỉnh các loại thuế, phí, cách áp thuế... đối với lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn. Liên quan tới chính sách tín dụng, hướng thúc đẩy sẽ là thể chế hóa cơ chế cho vay theo chuỗi giá trị thực hiện liên kết, sản xuất nông nghiệp công nghệ cao và XK nông sản...

Các nhà lãnh đạo cấp cao ASEAN thông qua Kế hoạch Tổng thể về Kết nối ASEAN 2025

Hội nghị Cấp cao ASEAN lần thứ 28 tại Viêng Chăn (Lào) ngày 6/9/2016 đã thông qua Kế hoạch Tổng thể về Kết nối ASEAN 2025 (MPAC 2025). Bản kế hoạch này nối tiếp sự thành công của Kế hoạch Tổng thể về Kết nối ASEAN 2010, tập trung vào 5 lĩnh vực chiến lược: cơ sở hạ tầng bền vững, sáng tạo số hóa, logistics không gián đoạn, tối ưu hóa hoạch định và sự di chuyển của con người.

MPAC 2025 được xây dựng trên cơ sở tham vấn với các cơ quan chuyên ngành của ASEAN và các bên liên quan. Các sáng kiến còn lại của MPAC 2010 được xem xét, đánh giá trong MPAC 2025.

Về phát triển cơ sở hạ tầng bền vững: ASEAN cần ít nhất 110 tỷ USD đầu tư cho cơ sở hạ tầng mỗi năm để chuẩn bị cho sự tăng trưởng trong tương lai, MPAC 2025 hướng tới giúp các nhà đầu tư mở rộng cơ hội từ phát triển cơ sở hạ tầng bền vững bằng cách cải thiện quá trình chuẩn bị dự án, nâng cao năng suất, hỗ trợ các thành phố trong việc thông qua các hoạt động bền vững.

Về sáng tạo số hóa: Công nghệ số hóa ở ASEAN có tiềm năng phát triển lên tới 625 tỷ USD vào năm 2030, từ gia tăng hiệu quả, sản phẩm và dịch vụ mới. Quá trình sáng tạo số hóa đòi hỏi thiết lập các khuôn khổ quản lý để thực hiện dịch vụ số hóa mới, hỗ trợ chia sẻ các thông lệ tốt nhất trong dữ liệu mở; trang bị cho các doanh nghiệp siêu nhỏ, nhỏ và vừa năng lực tiếp cận các công nghệ mới.

Về dịch vụ logistics không gián đoạn: Cải thiện khả năng cạnh tranh của ngành logistics sẽ tạo sự lưu chuyển cho hàng hóa trong cộng đồng ASEAN, gia tăng cơ hội kinh doanh cho công dân ASEAN. MPAC 2025 hướng tới mục tiêu này bằng cách xác định và giải quyết những vướng mắc then chốt đối với các tuyến thương mại quan trọng trong ASEAN.

Về tối ưu hóa hoạch định: Các nước thành viên ASEAN đã cắt giảm đáng kể thuế quan, mang lại lợi ích cho người tiêu dùng trong khu vực. MPAC tập trung vào hài hòa tiêu chuẩn, công nhận lẫn nhau và các quy định kỹ thuật, cũng như các biện pháp phi thuế quan gây méo mó thương mại để đạt được tối ưu hóa hoạch định.

Về sự di chuyển của con người: Số lượng khách du lịch từ ngoài ASEAN có thể đạt 150 triệu người vào năm 2025. MPAC 2025 sẽ tập trung vào việc cung cấp thông tin toàn diện về lựa chọn lữ hành và đơn giản hóa thủ tục thị thực. Điều này cũng sẽ xây dựng các khuôn khổ tiêu chuẩn chất lượng cao ở nhiều nghề nghiệp mà các nước thành viên ASEAN có thể thực thi theo bối cảnh của từng nước, và khuyến khích sự di chuyển của các sinh viên trong ASEAN.

Theo Bộ trưởng Ngoại giao Lào và là Chủ tịch Hội đồng Điều phối ASEAN cho rằng Kế hoạch Tổng thể về Kết nối ASEAN 2025 là kế hoạch tham vọng, nhưng cũng rất thực tiễn. ASEAN đã xây dựng các cơ chế thực thi mạnh mẽ để đảm bảo sự phối hợp hiệu quả giữa các cơ quan liên quan và có thể tạo ra sự thay đổi tích cực trong 10 năm tới. ASEAN cũng kỳ vọng với một khu vực có dân số trẻ, vị trí chiến lược và công nghệ đổi mới, nếu MPAC 2025 được triển khai hiệu quả sẽ mang lại nhiều cơ hội giáo dục và kinh tế cho người dân ASEAN và có thể tạo ra sức mạnh tổng hợp của cả khu vực.

Nguồn: Asem/WTO/Bloomberg…

Từ khóa : Tổng hợp, tình hình, Cộng đồng kinh tế ASEAN, trong tháng 9/2016.

Chuyên mục RCEP

JSN_TPLFW_TOGGLE_MENU

Tin tức

JSN_TPLFW_TOGGLE_MENU

Thư viện hội nhập

thu vien


phong ve thuong mai

Video

Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field

Liên kết

 

Lượt truy cập

008789729
Go to top