
Do chính sách mở rộng tín dụng, mở rộng tiền tệ tại Trung Quốc hướng tới phía cung của nền kinh tế.
“China's Reform Imperative” nghiên cứu cải cách kinh tế của Trung Quốc và tác động đến kinh tế toàn cầu. Được biên soạn bởi Nghiên cứu viên cao cấp của Carnegie, Michael Pettis, “China's Reform Imperative” sẽ tập trung vào con đường cải cách của Trung Quốc cũng như những thách thức và cơ hội mà Bắc Kinh phải đối mặt.
Câu nói nổi tiếng của Milton Friedman, “Lạm phát ở khắp mọi nơi và luôn là một hiện tượng tiền tệ”, nhưng có ít người biết rằng câu nói thực sự trong A Monetary History of the United States (đồng tác giả với Anna Jacobson Schwartz, xuất bản năm 1963) dài hơn. Friedman và Schwartz đã viết, “Lạm phát ở khắp mọi nơi và luôn là một hiện tượng tiền tệ, nó xuất phát và đi kèm với sự gia tăng lượng tiền so với sản lượng”.
Thật không may là rất ít người biết vế thứ hai trong khi nó rất quan trọng đối với ý nghĩa chung của cả câu. Cụ thể, nó giải thích và giới hạn điều kiện mà phần đầu tiên của câu thường được hiểu. Không phải việc mở rộng tiền tệ là lạm phát, mà lạm phát là do cầu tăng so với sản lượng.
Ngay cả Friedman và Schwartz dường như cũng quên mất điều kiện hạn chế này khi họ đưa ra tuyên mang tính chính trị: “Do đó, cách duy nhất để ngăn chặn lạm phát hiệu quả là kiềm chế tốc độ tăng trưởng của lượng tiền”. Sẽ chính xác hơn khi nói rằng cách duy nhất để ngăn chặn lạm phát hiệu quả là kiềm chế sự gia tăng của cầu so với sản lượng, trong trường hợp đó, phiên bản của họ chỉ đúng khi sự mở rộng tiền tệ khiến cầu tăng so với sản lượng.
Đó là cách diễn đạt kém tinh tế. Nhưng có lẽ ở nhiều nền kinh tế, nếu không muốn nói là hầu hết, bao gồm cả Hoa Kỳ, việc bỏ qua các điều kiện giới hạn này không quan trọng. Bởi vì hệ thống tài chính ở các nền kinh tế này được cấu trúc sao cho việc mở rộng lượng tiền dường như khiến nhu cầu tăng nhanh hơn sản lượng, do đó, việc mở rộng tiền tệ thực sự sẽ gây ra lạm phát. Một trong những cách dễ hiểu là khi mở rộng tiền tệ sẽ trực tiếp làm tăng tín dụng tiêu dùng hoặc giá tài sản tăng, từ đó gián tiếp thúc đẩy tiêu dùng thông qua hiệu ứng của cải.
Điều này dường như đúng với hệ thống tài chính của Hoa Kỳ, nhưng đây có phải là đặc điểm chung của các hệ thống tài chính không? Hầu hết các nhà kinh tế - ngay cả các nhà kinh tế Trung Quốc và các nhà kinh tế khác ngoài Hoa Kỳ - đều quá tập trung vào Hoa Kỳ trong sự hiểu biết của họ về lý thuyết kinh tế, đến mức việc đặt câu hỏi liệu các hệ thống ngân hàng và hệ thống tài chính có hoạt động giống như Hoa Kỳ hay không dường như là một điều vô lý.
Tuy nhiên, ít nhất là ở hai nền kinh tế lớn - Nhật Bản trong giai đoạn 1960 - 2000 và Trung Quốc trong bốn thập kỷ qua – điều này rõ ràng không xảy ra. Trong khi ở Hoa Kỳ và các nền kinh tế tương tự khác, sự mở rộng tiền tệ tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến việc thúc đẩy nhu cầu tiêu dùng của nền kinh tế, thì hệ thống tài chính hiện nay của Trung Quốc và Nhật Bản được cấu trúc theo cách mà sự mở rộng tiền tệ chủ yếu dẫn đến sự gia tăng tín dụng, mà vì những lý do thể chế, chủ yếu hướng vào phía cung của nền kinh tế.
Chẳng hạn, phần lớn tín dụng ở Trung Quốc được chuyển qua các doanh nghiệp, doanh nghiệp nhà nước, chính quyền địa phương và Bắc Kinh đầu tư vào cơ sở hạ tầng, bất động sản, các ngành sản xuất hoặc các ngành công nghiệp khai khoáng. Một phần nhỏ được chuyển cho các hộ gia đình và thậm chí cho đến gần đây, khoản này được sử dụng nhiều hơn cho mục đích mua nhà (nơi có nhiều lạm phát) so với mục đích tiêu dùng. Hệ thống tài chính của Trung Quốc do các ngân hàng chi phối và hệ thống ngân hàng của nước này ít phụ thuộc vào việc thay đổi lãi suất và tín hiệu tín dụng mà phụ thuộc vào cơ quan quản lý hướng dẫn các ngân hàng về cách họ nên quản lý danh mục tín dụng của mình và các lĩnh vực mà họ nên cho vay (Nhật Bản vào những năm 1980 gọi đây là “hướng dẫn qua cửa sổ”).
Kết quả là sự mở rộng tín dụng hỗ trợ phía cung nhiều hơn là hỗ trợ phía cầu. Đây là một điểm khác biệt quan trọng. Trong những trường hợp mà sự mở rộng tiền tệ được điều hướng qua hệ thống tài chính để mở rộng nhu cầu so với sản lượng, có lẽ câu nói “cách duy nhất để ngăn chặn lạm phát hiệu quả là kiềm chế tốc độ tăng trưởng của lượng tiền” có thể đúng, hay nói cách khác, việc gia tăng lượng tiền có khả năng thúc đẩy lạm phát. Nhưng trong những trường hợp mà việc mở rộng tiền tệ được điều hướng qua hệ thống tài chính đến phía cung của nền kinh tế, thì điều này không còn đúng nữa.
Tuy nhiên, đó là điều mà nhiều nhà phân tích, bao gồm cả giới tinh hoa hoạch định chính sách Trung Quốc vẫn nghĩ. Lạm phát thấp và thậm chí là giảm phát đã là vấn đề ở Trung Quốc trong những năm gần đây, tương tự như Nhật Bản vào những năm 1990. Nhưng sau mỗi lần công bố dữ liệu lạm phát không như mong đợi, chúng ta lại nghe rằng lạm phát thấp ở Trung Quốc tạo ra dư địa cần thiết để ngân hàng trung ương mở rộng lượng tiền một cách mãnh mẽ hơn.
Mặc dù đã có sự nới rộng nợ và lượng tiền mạnh mẽ trong những năm gần đây, Trung Quốc vẫn không thể thoát khỏi tình trạng giảm phát và lạm phát giảm (Nhật Bản cũng không thể làm được như vậy trước đây). Nguyên nhân là Trung Quốc đã quên điều kiện trong cách diễn đạt ban đầu của Friedman, theo đó sự mở rộng tiền tệ là lạm phát và vì vậy không hiểu tại sao điều kiện này lại không áp dụng. Do cách quản lý việc tăng tín dụng, mở rộng tiền tệ ở Trung Quốc chủ yếu được hướng vào phía cung của nền kinh tế. Trong khi sản lượng tạo ra bởi mỗi đơn vị tăng thêm trong lượng tiền và nợ đã giảm mạnh trong những năm qua, việc mở rộng tiền tệ và tín dụng vẫn dẫn đến sự gia tăng tương đối trong sản lượng.
Đó là lý do tại sao sự kết hợp giữa môi trường toàn cầu lạm phát cao và sự tăng trưởng tín dụng và tiền tệ nhanh chóng của Trung Quốc lại gắn liền với giảm phát ở Trung Quốc – chứ không phải lạm phát. Cho đến khi có sự chuyển đổi thể chế trong hệ thống ngân hàng của Trung Quốc, điều hướng tín dụng chủ yếu vào phía cầu của nền kinh tế, điều mà Bắc Kinh vẫn do dự ủng hộ dù nền kinh tế bị ảnh hưởng bởi nhu cầu nội địa yếu, thì không có lý do gì để giả định mối quan hệ giữa lạm phát và tốc độ tăng trưởng của lượng tiền phải giống như Hoa Kỳ.
Một cách mỉa mai, có lẽ lý do Trung Quốc không trải qua thêm tình trạng giảm phát là vì nền kinh tế đã đầu tư quá mức đến mức tác động tích cực của sự mở rộng tín dụng về phía cung đã mất đi nhiều hiệu quả. Chính sự suy giảm hiệu quả của đầu tư ở Trung Quốc mới ngăn chặn được tình trạng giảm phát trở nên nghiêm trọng hơn so với hiện tại.
Nguồn: carnegieendowment
Từ khóa: Trung Quốc, lạm phát, giảm phát, mở rộng tín dụng
Các tin khác
- Trung Á thúc đẩy quan hệ năng lượng và hội nhập khu vực trong bối cảnh thay đổi toàn cầu - 06/09/2024
- Ngành gỗ: Thị trường xuất khẩu ngày càng "khó tính" - 06/09/2024
- Kinh tế Mỹ tăng trưởng nhanh hơn dự kiến - 06/09/2024
- Doanh nghiệp ngành da giày: Đón đầu xu hướng Xanh để phát triển bền vững - 05/09/2024
- Xuất khẩu dệt may Việt Nam 2024: Cơ hội và thách thức từ thị trường quốc tế - 05/09/2024






















