
Trung Quốc không có bản kế hoạch chi tiết cho sự phát triển ngoạn mục của mình nhưng việc chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế định hướng thị trường; đồng thời xem xét đến nguyên tắc lợi thế so sánh là một kinh nghiệm giúp các bên cùng có lợi.
Tăng trưởng ngoài kế hoạch
Tư nhân hóa từ trên xuống không phải là con đường dẫn đến thị trường hóa ở Trung Quốc. Đúng hơn, như Barry Naughton chỉ ra trong Growing Out of the Plan: Chinese Economic Reform, 1978–1993 (trang 8–9), Trung Quốc đã tăng trưởng ngoài kế hoạch nhờ cho phép phát triển khu vực ngoài quốc doanh. Năm 1984, các quan chức cấp cao đã nhất trí giữ cố định các mục tiêu sản lượng theo kế hoạch cùng với việc phân bổ nguồn lực cho khu vực theo kế hoạch của nền kinh tế. Vì vậy, khi năng suất trong khu vực định hướng thị trường tăng lên thì sự đóng góp của kế hoạch này vào sản lượng quốc gia lại giảm xuống. Trên thực tế, hệ thống giá theo dõi kép chỉ là tạm thời.
Nếu chỉ nhìn vào lĩnh vực công nghiệp, năm 1978, doanh nghiệp nhà nước (SOE) chiếm gần 80% tổng sản lượng công nghiệp, nhưng đến năm 2006, tỷ trọng đã giảm xuống còn 20% (Hình 2). Trong cuốn China’s 40 Years of Reform and Development: 1978–2018, học giả Nicholas Lardy cho rằng sự thay đổi tương đối đó là do “việc mở ra không gian kinh tế dành cho các công ty tư nhân, đồng thời hiệu quả tài chính vượt trội của công ty tư nhân và khả năng tiếp cận vốn của những công ty này ngày càng tăng.” Tuy nhiên, ông cũng lưu ý rằng SOE vẫn tiếp tục tăng trưởng về mặt tuyệt đối.
Năm 1988, lạm phát gia tăng và sự bất bình về nạn tham nhũng lan rộng cũng như tốc độ cải cách hành chính chậm lại, các cuộc biểu tình đã diễn ra ở Quảng trường Thiên An Môn vào mùa xuân năm 1989. Trung Quốc cần một nền pháp trị thực sự nếu muốn thiết lập nền kinh tế thị trường bình thường.
Tốc độ tăng trưởng kinh tế chậm lại cho đến năm 1992, khi ông Đặng thực hiện chuyến công du nổi tiếng đến các đặc khu kinh tế do ông thành lập vào đầu những năm 1980. Trong chuyến thăm Thâm Quyến, ông đã khẳng định: “Như bài học quan trọng từ Thâm Quyến, chúng ta nên dám thử nghiệm và tìm ra một con đường mới.”
Theo Barry Naughton trong cuốn The Chinese Economy: Transitions and Growth (trang 99): Thông điệp chính của ông Đặng trong chuyến thăm này là: Nhiệm vụ trọng tâm là xây dựng chủ nghĩa xã hội với hai điểm cơ bản là cải cách chính sách và mở cửa với thế giới bên ngoài.
Chỉ số thị trường hóa
Theo học giả Lardy trong cuốn Integrating China into the Global Economy (trang 24–25): Đầu năm 1978, trước khi nền kinh tế thị trường phát triển, phần lớn giá cả vẫn do nhà nước hướng dẫn hoặc ấn định. Tuy nhiên, đến năm 1999, 95% giá cả hàng hóa bán lẻ, 83% giá nông sản và 86% giá hàng hóa sản xuất là do thị trường quyết định.
Mặc dù Trung Quốc đã đạt được tiến bộ đáng kể trong việc chuyển từ nền kinh tế kế hoạch sang định hướng thị trường, nhưng vẫn còn nhiều việc phải làm. Đặc biệt, như Wu Jinglian, một nhà cải cách hàng đầu của Trung Quốc đã nhận xét vào năm 2005 khi được vinh danh vì những đóng góp của mình trong quá trình thị trường hóa ở Trung Quốc: “Chỉ bằng cách kết hợp pháp quyền với nền kinh tế thị trường, chúng ta mới có thể đạt được thành công triệt để.”
Để đo lường mức độ thị trường hóa theo thời gian, Viện Nghiên cứu Kinh tế Quốc gia đã phát triển bộ chỉ số thị trường hóa dựa trên năm điểm chính: (1) quan hệ chính phủ- thị trường; (2) phát triển khu vực ngoài quốc doanh; (3) phát triển thị trường hàng hóa; (4) phát triển thị trường yếu tố sản xuất và (5) khung pháp lý trung gian. Sau đó, các chỉ số khác nhau được sử dụng để xếp hạng từng tỉnh trong số 31 tỉnh của Trung Quốc (bao gồm 5 khu tự trị và ba thành phố tự trị trực thuộc chính quyền trung ương). Tỉnh có nhiều tiến bộ nhất trong thị trường hóa sẽ nhận được điểm 10 và tỉnh có mức độ thị trường hóa ít nhất nhận được điểm 0. Các khu vực ven biển như Thượng Hải, Quảng Đông và Chiết Giang có mức độ thị trường hóa cao hơn so với các khu vực kém phát triển hơn.
Hình 3 cho thấy xu hướng thị trường hóa là tích cực, với điểm trung bình của thị trường hóa từ 3,78 năm 1997 lên 4,48 năm 2001 và 7,06 năm 2007. Năm 2008, cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu đã làm giảm tiến độ của thị trường hóa và chỉ số đã không vượt qua mức 7,06 cho đến năm 2013. Năm 2019, chỉ số này đạt mức cao hơn là 8,19. Điều này cho chúng ta thấy rằng trên một số khía cạnh, Trung Quốc đã có những bước đi quan trọng hướng đến nền kinh tế định hướng thị trường. Tuy nhiên, người ta không nên chỉ xem chỉ số thị trường hóa của Viện Nghiên cứu Kinh tế Quốc gia để biết mức độ khả năng của Trung Quốc trong việc đạt được một số hệ thống thị trường tự do lý tưởng. Đúng hơn, đây là một thước đo tương đối cho chúng ta một số ý tưởng về thị trường hóa đang tiến triển tốt ra sao. (hình 3)
Nhìn chung, kể từ khi phong trào cải cách và mở cửa của Trung Quốc bắt đầu vào năm 1978, đã có những tiến bộ đáng kể hướng tới việc chuyển sang nền kinh tế định hướng thị trường. Thị trường hóa và tăng trưởng kinh tế đi đôi với nhau. Mặc dù, Trung Quốc đã phát triển một hệ thống thị trường xã hội chủ nghĩa nhưng nước này cũng cho phép phát triển nhiều hình thức sở hữu ngoài nhà nước, bao gồm doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và công ty cổ phần. Quả thật, khu vực tư nhân/ ngoài nhà nước là yếu tố năng động mang lại cho các cá nhân cơ hội thoát nghèo và trở nên thịnh vượng. Theo nghĩa này, Trung Quốc có chủ nghĩa xã hội mềm chứ không phải chủ nghĩa xã hội nhà nước cứng nhắc tồn tại dưới thời ông Mao Trạch Đông khi mà sở hữu tư nhân và thị trường tự do là không được phép.
Trung Quốc gia nhập WTO
Mặc dù, Trung Quốc đã phát triển thương mại nội khối, nước này cũng bắt đầu mở cửa với thế giới bên ngoài. Theo nền kế hoạch hóa tập trung, nhà nước độc quyền về quyền kinh doanh. Chỉ một số ít SOE được trao quyền kinh doanh nước ngoài. Trên thực tế, Trung Quốc đã bị cô lập khỏi nền kinh tế quốc tế. Tuy nhiên, bắt đầu từ năm 1980, các đặc khu kinh tế được thành lập ở khu vực ven biển và được hưởng ưu đãi. Tháng 8/1980, đặc khu kinh tế được thành lập ở Thâm Quyến, Chu Hải, Sán Đầu và Hạ Môn. Từ năm 1985- 1990, bốn đặc khu kinh tế này đã chứng kiến tổng giá trị sản lượng công nghiệp tăng từ 5,5 tỷ nhân dân tệ lên 49,5 tỷ nhân dân tệ. Theo ông Wu Jinglian trong cuốn Understanding and Interpreting Chinese Economic Reform (trang 296–97): Tháng 5/1984, đặc khu kinh tế được thành lập tại 14 thành phố ven biển khác, bao gồm Thượng Hải, Ôn Châu và Quảng Châu. Sự thành công của các khu vực kinh tế mở này đã khiến các nhà hoạch định chính sách phải tạo ra nhiều khu vực hơn để khuyến khích thị trường hóa ở cấp độ quốc tế.
Từ tự cung tự cấp đến hội nhập
Các doanh nghiệp ngoài quốc doanh là động lực cho ngoại thương. Khi quyền thương mại được mở rộng, số lượng doanh nghiệp trong nước tham gia vào ngoại thương đã tăng từ 12 doanh nghiệp năm 1978 lên hơn 5,000 doanh nghiệp chỉ một thập kỷ sau đó. Theo cuốn Integrating China into the Global Economy (trang 41) đến năm 2001, khi Trung Quốc gia nhập WTO, số doanh nghiệp trong nước tham gia ngoại thương đã đạt mốc 35,000 doanh nghiệp. Tỷ lệ thương mại/ GDP của Trung Quốc đã tăng lên khi các rào cản thuế quan và phi thuế quan giảm bớt trong thời gian chuẩn bị gia nhập WTO. Theo China’s 40 Years of Reform and Development: 1978–2018 (trang 35), sau khi gia nhập, mức thuế quan chung giảm xuống còn 9,8% trong năm 2007, so với mức 16,4% trong năm 2000. Thị trường hóa đạt đến tầm cao mới và tỷ trọng ngoại thương trong GDP tăng nhanh (Hình 4). Ngày nay, Trung Quốc là nước có hoạt động giao thương lớn nhất thế giới.
Trước khi gia nhập WTO, Trung Quốc đã đơn phương tự do hóa lĩnh vực ngoại thương của mình. Mức giá nội địa mang tính thị trường hơn do các công ty phải chịu áp lực cạnh tranh từ nước ngoài và hệ thống giá quốc tế. Các nguồn lực được phân bổ hiệu quả và thị trường mở hơn đồng nghĩa người Trung Quốc có thể hưởng lợi từ các cơ hội tiêu dùng cũng như trao đổi kiến thức với bên ngoài lớn hơn.
Những lợi ích đó khác xa việc tự cung tự cấp tồn tại dưới thời ông Mao Trạch Đông. Theo nền kinh tế kế hoạch tập trung, nguyên tắc lợi thế so sánh bị xem nhẹ và ưu tiên của các nhà hoạch định chính sách là phát triển ngành công nghiệp nặng với mức chi phí cơ hội rất cao.
Chính việc mở cửa của Trung Quốc ra thế giới bên ngoài - không phải chủ nghĩa bảo hộ và chính sách công nghiệp- đã thúc đẩy phát triển kinh tế. Như ông Lardy lưu ý trong China’s 40 Years of Reform and Development: 1978–2018 (trang 335–36), chỉ đến năm 2003, Trung Quốc mới chính thức thành lập Ủy ban Giám sát và Quản lý Tài sản thuộc Sở hữu Nhà nước của Quốc vụ viện (SASAC) và được giao nhiệm vụ giám sát khoảng 200 doanh nghiệp lớn nhất của Trung Quốc và biến họ thành “nhà vô địch quốc gia”. Năm 2006, SASAC đã xác định một số “ngành công nghiệp chiến lược và trụ cột” trong lĩnh vực sản xuất và hy vọng chính sách công nghiệp sẽ thúc đẩy tăng trưởng các ngành này. Tuy nhiên, thành công còn hạn chế: tỷ trọng sản lượng sản xuất và đầu tư của SOE giảm trong khi tỷ trọng của các doanh nghiệp tư nhân tiếp tục tăng. Do đó, ông Lardy kết luận rằng mặc dù “nhà nước đã tìm kiếm một vai trò trực diện hơn trong việc thúc đẩy phát triển kinh tế, nhưng gần như chắc chắn nó sẽ không mấy thành công.”
Cựu Tổng lý Quốc vụ viện, Chu Dung Cơ ủng hộ việc Trung Quốc gia nhập WTO. Tháng 7/2000, trưởng đoàn đàm phán của ông Chu, Long Yongtu đã đưa ra quan điểm mạnh mẽ trên tờ People’s Daily rằng tự do hóa là động lực then chốt cho sự phát triển tương lai của Trung Quốc: “Các nước có nền kinh tế kế hoạch tập trung chưa bao giờ là một phần của toàn cầu hóa kinh tế. Nền kinh tế Trung Quốc phải trở thành một nền kinh tế thị trường để trở thành một phần của hệ thống kinh tế toàn cầu, cũng như của quá trình toàn cầu hóa kinh tế”.
Quá trình tự do hóa giá cả trong nước của Trung Quốc và việc nới lỏng các hạn chế ngoại thương, bắt đầu từ những năm 1990, đã mở đường cho giá hàng nội địa đi giao thương được áp theo mức giá toàn cầu. Thật vậy, đầu năm 1992, ông Lardy cho biết trong cuốn Integrating China into the Global Economy (trang 24) “giá thị trường trong nước của hơn 95% tất cả hàng hóa nhập khẩu đều dựa trên giá quốc tế”.
Mặc dù đã đạt được nhiều tiến bộ trong việc hội nhập Trung Quốc vào nền kinh tế toàn cầu nhưng vẫn còn nhiều việc phải làm. Việc thiếu cơ quan tư pháp độc lập, sự phụ thuộc quá mức vào các SOE (theo Quỹ Tiền tệ Quốc tế, SOE có năng suất thấp hơn khoảng 20% so với các doanh nghiệp thuộc khu vực tư nhân), kìm hãm tài chính và các hành vi lạm dụng (như tấn công mạng vào mạng lưới thương mại và đàn áp quyền tự do ngôn luận) đã đe dọa sự tiến bộ trong tương lai.
Trung Quốc cần một thị trường tự do về sáng kiến
Sau hơn 40 năm mở cửa không đồng đều với thế giới bên ngoài, Trung Quốc vẫn xếp gần cuối bảng về tự do báo chí. Trong Chỉ số Tự do Báo chí Thế giới năm 2023, Trung Quốc xếp thứ 179/180 quốc gia; trong đó Triều Tiên là thấp nhất. Giá trị của tự do ngôn luận là cho phép mọi người cải thiện thể chế bằng cách chỉ ra điểm yếu, từ đó có thể đưa ra những cải tiến. Như Eswar Prasad nhận định trong Gaining Currency: The Rise of the Renminbi (trang 156), “Sự minh bạch của thể chế công, quyền tự do biểu đạt và một phương tiện truyền thông tự do đều cần thiết để xây dựng lòng tin. Điều này chỉ với mục đích là làm rõ những điểm yếu và lỗi trong hệ thống để khắc phục.”
Bài học quan trọng cho sự phát triển tương lai của Trung Quốc rất rõ ràng, theo Ronald Coase và Ning Wang trong How China Became Capitalist (trang 207): “Khi thị trường hàng hóa và thị trường sáng kiến cùng hoạt động sôi nổi, mỗi thị trường sẽ hỗ trợ, tăng cường và củng cố những khía cạnh khác, góp phần thúc đẩy sự sáng tạo và hạnh phúc con người.”
Kết luận
Chính sách công nghiệp và kế hoạch hóa tập trung dưới thời Mao Trạch Đông đã chứng tỏ sự thất bại nặng nề, chúng không mang lại sự tăng trưởng kinh tế bền vững hay sự thịnh vượng trên diện rộng. Như ông Lardy trong Markets Over Mao: The Rise of Private Business in China and Dorn in Economic Freedom and Prosperity: The Origins and Maintenance of Liberalization (chương 9) đã chỉ ra: Năm 1978, Đặng Tiểu Bình đã thừa nhận sự thất bại của sự phát triển do nhà nước lãnh đạo và dần dần đảo ngược quá trình chuyển đổi từ kế hoạch tập trung sang thị trường.
Phong trào cải cách bắt đầu bằng hành động của nông dân nhằm giành được quyền sở hữu đất đai và bán sản phẩm dư thừa trên thị trường tư nhân. TVE xuất hiện một cách tự phát khi nông dân mong muốn giàu lên bằng cách bắt đầu kinh doanh nhỏ.
Khu vực ngoại thương mở rộng khi Trung Quốc mở cửa thị trường với thế giới và thành lập các đặc khu kinh tế ở các khu vực ven biển. Doanh nghiệp ngoài nhà nước, đặc biệt các công ty tư nhân, trở thành động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Mặc dù không có kế hoạch chi tiết cho hệ thống trách nhiệm hộ gia đình hay TVE, nhưng chính phủ đã mạnh dạn hơn khi tạo ra các đặc khu kinh tế.
Trung Quốc đã trở thành một cường quốc bằng cách mở cửa thị trường, công nhận khu vực ngoài quốc doanh và cho phép các cá nhân tự thoát nghèo. Những nỗ lực về chính sách công nghiệp theo SASAC đã thất bại. Bài học cho Trung Quốc là hãy tiếp tục con đường thị trường hóa và tự do hóa, chứ không nên quay lại với việc kiểm soát của nhà nước.
Trung Quốc có thể học từ lịch sử của chính mình cũng như từ phương Tây rằng sự hài hòa kinh tế và xã hội không thể bị áp đặt. Thách thức hiện tại là tạo ra một thị trường tự do cho các sáng kiến cũng như cho thương mại hàng hóa và dịch vụ bằng cải cách thể chế nhằm bảo vệ cả quyền tự do kinh tế và tự do cá nhân.
Nguồn: Cato
Từ khóa: Trung Quốc, phát triển kinh tế, thương mại toàn cầu
Các tin khác
- Tái toàn cầu hóa đảm bảo cung cấp miễn phí ngũ cốc và khoáng sản sẽ là trật tự thế giới mới - 20/10/2023
- Toàn cầu hóa: Cuộc đua xuống đáy hay lên đỉnh? (Phần 1) - 20/10/2023
- Giảm chi phí logistics, tăng sức cạnh tranh cho nền kinh tế - 20/10/2023
- Niềm tin tăng trưởng dài hạn của Việt Nam duy trì sức hút FDI - 20/10/2023
- Kinh tế Châu Á Thái Bình Dương được dự đoán sẽ "ngược sóng" trong năm 2023 - 20/10/2023






















