JSN_TPLFW_TOGGLE_MENU
Phân tích - Bình luậnHội nhập kinh tế quốc tếToàn cầu hóa: Cuộc đua xuống đáy hay lên đỉnh? (Phần 1)

Toàn cầu hóa: Cuộc đua xuống đáy hay lên đỉnh? (Phần 1)

cuoc dua xuong day hay len dinh 2Định hướng chung hướng tới việc làm tốt hơn, lương cao hơn, nơi làm việc an toàn hơn và ít lao động trẻ em hơn, đã diễn ra nhanh nhất ở các quốc gia mở cửa nhiều nhất và hội nhập nhiều nhất vào chuỗi cung ứng toàn cầu.

Năm 2002, người đoạt giải NobelJoseph Stiglitz tuyên bố rằng “toàn cầu hóa đã trở thành một cuộc đua xuống đáy, trong đó các tập đoàn là người chiến thắng duy nhất và phần còn lại của xã hội, ở cả thế giới phát triển và đang phát triển, là kẻ thua cuộc.”

Vào khoảng đầu thiên niên kỷ, bắt đầu có nhiều cuộc tranh luận về nỗi lo sợ một cuộc chạy đua xuống đáy do tác động của toàn cầu hóa kinh tế. Khi nguồn vốn và các tập đoàn trở nên tự do hơn trong việc di chuyển xuyên biên giới, nhiều người lo lắng rằng các tập đoàn sẽ chuyển đến những nơi có mức lương thấp nhất, điều kiện làm việc tồi tệ nhất và ít bảo vệ môi trường nhất. Đồng thời, các chính phủ sẽ có xu hướng nới lỏng các tiêu chuẩn để thu hút thêm đầu tư và tăng cường sự tham gia vào chuỗi cung ứng toàn cầu.

Nhưng thực sự điều ngược lại đã xảy ra. Định hướng chung là sẽ hướng tới việc làm tốt hơn, lương cao hơn, nơi làm việc an toàn hơn và ít lao động trẻ em hơn, và những điều này đã diễn ra nhanh nhất ở các quốc gia mở cửa nhiều nhất và hội nhập nhiều nhất vào chuỗi cung ứng toàn cầu.

Điều đáng kinh ngạc là, những dữ liệu này bị các quan chức ở Hoa Kỳ và những quốc gia khác phớt lờ, những người – có quan điển như Stiglitz hai thập kỷ trước – vẫn bám vào câu chuyện chạy đua tới đáy và chỉ trích một mô hình kinh tế “thuộc địa” và mô hình kinh tế được thúc đẩy bởi “các hiệp định thương mại tự do truyền thống”, theo Đại diện Thương mại Hoa Kỳ Katherine Tai đã trình bày trong một bài phát biểu gần đây về khả năng phục hồi của chuỗi cung ứng. Đã lâu rồi họ và những người hoài nghi về toàn cầu hóa cần phải cập nhật kịch bản của mình.

Điều gì đã xảy ra với tình trạng việc làm?

Một bài bình luận điển hình trên tờ New York Times đã khẳng định vào năm 2015 rằng cuộc đua xuống đáy khuyến khích các tập đoàn “chuyển sản xuất sang quốc gia có chi phí thấp nhất”, tuyển dụng lao động trẻ em vì họ được trả lương thấp hơn và bỏ bê các biện pháp an toàn, dẫn đến cái chết của nhiều công nhân hơn. Điều này chỉ là lý thuyết suông, những dữ liệu thực nghiệm đã chứng minh điều ngược lại.

Các Tổ chức Lao động Quốc tế đánh giá tỷ lệ lực lượng lao động làm các công việc sơ cấp và đòi hỏi tay nghề thấp hơn là đại diện cho thu nhập thấp và điều kiện làm việc tồi tệ. Tỷ lệ này đã giảm hơn 10 điểm phần trăm trên toàn cầu từ năm 1994 đến năm 2019. Ở các quốc gia có thu nhập thấp giảm 6 điểm phần trăm, đối với các quốc gia có thu nhập trung bình cao giảm tới 20 điểm phần trăm, đây cũng là nhóm các quốc gia đã có những bước nhảy vọt lớn nhất để hội nhập với nền kinh tế toàn cầu.

Số người lao động nghèo đã giảm rất nhanh. Từ năm 1994 đến năm 2022, tỷ lệ người có việc làm trên toàn thế giới sống trong tình trạng nghèo cùng cực (nhận thu nhập dưới 1,90 USD đã điều chỉnh theo lạm phát và sức mua địa phương) đã giảm hơn 3/4, từ 31,6% xuống 6,4% - giảm hơn nửa tỷ người bất chấp những khó khăn trong đại dịch (Hình 1). Tỷ lệ người lao động ở mức nghèo vừa phải (thu nhập từ 1,90 USD đến 3,20 USD) cũng giảm, từ hơn 21% xuống còn khoảng 12%. Nghèo đói có mối tương quan chặt chẽ với tổng sản phẩm quốc nội (GDP) bình quân đầu người và ở các quốc gia có thu nhập trung bình cao, tỷ lệ người lao động nghèo cùng cực chỉ dưới 1% vào năm 2022.

Ở Đông Á, khu vực đang phát triển có tốc độ toàn cầu hóa cao nhất, tỷ lệ người lao động sống trong tình trạng nghèo cùng cực chỉ là 0,5% vào năm 2022. Ngược lại, khu vực có ít đầu tư nước ngoài và sự tham gia vào chuỗi cung ứng nhất, châu Phi cận Sahara, lại có tỷ lệ 38%.

Việc đưa ra các thước đo có thể so sánh được về tiêu chuẩn lao động còn khó hơn, nhưng Tổ chức Y tế Thế giới và Tổ chức Lao động Quốc tế đã xây dựng bộ ước tính toàn cầu về mức đô thương tích và tử vong liên quan đến công việc từ năm 2000 đến năm 2016. Dữ liệu cho thấy “tổng gánh nặng bệnh tật liên quan đến công việc giảm đáng kể”. Số năm sống được điều chỉnh theo bệnh tật do rủi ro nghề nghiệp đã giảm 12,9% từ năm 2000 đến năm 2016. Tỷ lệ tử vong toàn cầu liên quan đến công việc giảm 14,2%. Tỷ lệ tử vong do tiếp xúc với lực cơ học và lửa hoặc nhiệt, hai rủi ro thường liên quan đến các công xưởng bóc lột sức lao động ở các nước nghèo, giảm lần lượt là 18,3% và 26%.

Lao động trẻ em cũng giảm nhanh trong cùng thời kỳ. Từ năm 2000 đến năm 2020, tỷ lệ trẻ em từ 5 đến 17 tuổi đang tham gia các công việc mà các em còn quá nhỏ để thực hiện hoặc có khả năng gây tổn hại đến sức khỏe hoặc sự an toàn của các em đã giảm từ 16% xuống 9,6%. Tỷ lệ trẻ em làm công việc nguy hiểm đã giảm hơn một nửa, từ 11,1% xuống 4,7% (Hình 2). Trẻ em có khả năng làm việc ở khu vực nông thôn cao gấp ba lần so với khu vực thành thị và khả năng làm việc trong lĩnh vực nông nghiệp cao gấp bảy lần so với công nghiệp.

Nhìn chung, trung bình việc làm đã được trả lương cao hơn và an toàn hơn trong thời đại toàn cầu hóa, hoàn toàn trái ngược với những gì mà giả thuyết cuộc đua xuống đáy đã dự đoán. Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) kết luận hoạt động nghiên cứu rằng:

Có phải chúng ta đang xuống đáy về điều kiện lao động?

Sự phát triển đáng khích lệ này đã không xảy ra bất chấp toàn cầu hóa mà phần lớn là nhờ vào toàn cầu hóa. Qua phân tích dữ liệu từ 114 quốc gia, Andreas Bergh và Therese Nilsson nhận thấy rằng quá trình toàn cầu hóa gia tăng ở một quốc gia, được đo bằng Chỉ số toàn cầu hóa KOF, có liên quan đến tốc độ giảm nghèo tăng đáng kể.

Trong cuốn sách “Toàn cầu hóa và điều kiện lao động”, Robert Flanagan tóm tắt bằng chứng: “Các quốc gia áp dụng chính sách thương mại mở có mức lương cao hơn, an toàn tại nơi làm việc cao hơn, nhiều quyền tự do dân sự hơn (bao gồm cả quyền tự do hiệp hội tại nơi làm việc) và ít lao động trẻ em hơn”. Flanagan và Niny Khor cũng ghi lại mối quan hệ này trong “Thương mại và chất lượng việc làm: Các nền kinh tế châu Á và ngoài châu Á,” trong báo cáo “Các ưu tiên chính sách cho thương mại quốc tế và việc làm” của OECD.

Điều này sẽ vô cùng đáng ngạc nhiên nếu các công ty luôn lùng sục khắp thế giới để tìm kiếm quốc gia có chi phí thấp nhất. Nhưng thực tế thì không như vậy. Bởi nếu các công ty làm vậy, 100% vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài sẽ đến các nước kém phát triển nhất, nhưng trên thực tế, không quá 2% tổng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đang hướng về phía các nước kém phát triển. Hầu hết vốn đầu tư đổ vào các nước tương đối phát triển và GDP bình quân đầu người có ảnh hưởng mạnh nhất đến điều kiện lao động. Nhìn chung, các nước giàu hơn có mức lương cao hơn, việc làm an toàn hơn, thời gian làm việc ngắn hơn và quyền lao động mạnh mẽ hơn, chẳng hạn như quyền tự do hiệp hội và ít lao động cưỡng bức hơn.

Giả thuyết chạy đua tới đáy đã sai vì giả thuyết bỏ qua một nửa phân tích chi phí-lợi ích. Nếu bồi thường lao động (theo nghĩa rộng, bao gồm cả điều kiện làm việc) chỉ là một món quà được ban tặng một cách hào phóng cho người lao động, sẽ có ý nghĩa kinh tế nếu giảm được sự đền bù càng nhiều càng tốt, nhưng trong một thị trường lao động cạnh tranh, đó là khoản bồi thường phải trả cho công việc mà ai đó đang làm, và do đó có mối liên hệ chặt chẽ giữa tiền lương và năng suất. Một số công nhân có thể được trả lương cao gấp đôi những người khác, nhưng điều đó không có nghĩa làm họ mất khả năng cạnh tranh nếu họ cũng có năng suất gấp đôi.

Đây không phải là sai sót duy nhất trong giả thuyết cuộc đua tới đáy. Thương mại và đầu tư đôi khi cũng được hướng đến những nước nghèo nhất, đặc biệt là trong những lĩnh vực có vốn đầu tư thấp lúc này yêu cầu về chi phí lao động là một yếu tố quan trọng, chẳng hạn như sản xuất hàng may mặc và giày dép. Nhưng trong những trường hợp đó, tác dụng chính của chúng là nâng cao mức năng suất và cải thiện tiền lương cũng như điều kiện làm việc.

Những công việc này có thể có vẻ tồi tệ đối với các nhà báo và các nhà hoạt động ở các nước giàu, những người đã quen với những tiêu chuẩn cao hơn nhiều, nhưng chúng thường mang lại điều gì đó tốt hơn nhiều cho người dân ở các nước nghèo hơn. So với các lựa chọn thay thế trong nông nghiệp, dịch vụ và sản xuất trong nước, các nhà máy đưa ra mức lương và điều kiện làm việc tốt hơn. Trên thực tế, khi Ngân hàng Thế giới viết về cách thức kinh tế Campuchia có thể cải thiện chất lượng việc làm, nhưng báo cáo đưa ra một khuyến nghị có vẻ hoàn toàn trái ngược đối với những người chỉ trích ở các nước giàu: “Sử dụng các tiêu chuẩn lao động tương tự được áp dụng trong các nhà máy may mặc cho các ngành và lĩnh vực khác”.

Sự xuất hiện của chuỗi cung ứng quốc tế có nghĩa là các công ty đa quốc gia hiện nay coi các nhà cung cấp ở một nước nghèo là một phần không thể thiếu trong hoạt động kinh doanh của chính họ. Vì vậy, lợi ích thương mại của các công ty đa quốc gia là phổ biến công nghệ mới nhất và quy trình kinh doanh mà họ cần để sản xuất tốt hơn và rẻ hơn. Bằng cách này, nhiều nước nghèo như Trung Quốc, Ấn Độ, Indonesia và Việt Nam cũng như các nước phát triển hơn như Ba Lan và Romania đã có thể rút ngắn một số giai đoạn phát triển và đạt được tốc độ tăng trưởng nhanh. Và một khi quốc gia đó đã xây dựng các nhà máy, đường và bến cảng để sản xuất cũng như vận chuyển quần áo và giày dép, họ cũng có thể sử dụng chúng để sản xuất và xuất khẩu các linh kiện công nghệ cao.

Điều này cho phép người lao động tạo ra nhiều giá trị hơn và do đó họ nhận được bồi thường tốt hơn. Nhiều nghiên cứu nhất quán cho thấy rằng các công ty sản xuất trả lương cao hơn các công ty khác, các công ty xuất khẩu trả lương cao hơn các nhà sản xuất ở thị trường trong nước và các công ty thuộc sở hữu nước ngoài trả lương cao hơn các công ty địa phương tương đương—cao hơn từ 16 đến 40% ở Châu Phi, Châu Á và Mỹ La-tinh. Ngoài ra còn có tác động tích cực đến tiền lương ở các doanh nghiệp địa phương tham gia vào chuỗi cung ứng quốc tế.

Bangladesh là một minh họa cho câu chuyện thành công toàn cầu hóa này. Sau khi tiếp thu bí quyết và máy móc bên ngoài vào những năm 1980, các doanh nhân địa phương đã nhanh chóng biến đất nước này thành một cường quốc toàn cầu về sản xuất dệt may. Trước năm 1980, đất nước nghèo tuyệt vọng này không có nhà máy nào sản xuất hàng dệt may xuất khẩu; ngày nay, lĩnh vực này đóng góp hơn 13% GDP và 80% xuất khẩu. Điều này đã tạo ra hàng triệu việc làm, đặc biệt là cho phụ nữ. Nền kinh tế đã tăng trưởng nhanh chóng và theo báo cáo của Ngân hàng Thế giới, tỷ lệ nghèo cùng cực đã giảm từ trên 40% năm 1991 xuống dưới 14% vào năm 2016 (Hình 3).

Khi các doanh nghiệp mới thu hút được người lao động, các doanh nghiệp cũ phải cải thiện các ưu đãi dành cho người lao động. Năm 2003, một chủ nhà máy người Việt ở ngoại ô Thành phố Hồ Chí Minh nói với tôi rằng sự cạnh tranh từ các nhà máy sản xuất cho Nike đã thay đổi quan điểm của ông về tầm quan trọng của tiêu chuẩn lao động:

Chắc chắn có những trường hợp về tiêu chuẩn làm việc tồi ngay cả ở các công ty sản xuất cho thị trường toàn cầu, nhưng “hầu như không có bằng chứng cẩn thận và có hệ thống nào chứng minh điều đó, nói chung, các công ty đa quốc gia ảnh hưởng tiêu cực đến người lao động, khuyến khích điều kiện làm việc tồi tệ hơn, trả lương thấp hơn so với việc làm thay thế, hoặc đàn áp quyền của người lao động,” trong báo cáo năm 2004 “Những thách thức đối với toàn cầu hóa: Phân tích kinh tế”, theo Robert E. Baldwin và L. Alan Winters cho rằng, “Trên thực tế, có rất nhiều bằng chứng thực nghiệm chỉ ra rằng trường hợp ngược lại.”

Khi các nước nghèo được hội nhập vào chuỗi cung ứng quốc tế, người tiêu dùng và cơ quan giám sát phương Tây cũng chịu nhiều áp lực hơn trong việc loại bỏ tình trạng lạm dụng và điều kiện làm việc tồi tệ. Một ví dụ là phản ứng sau vụ sụp đổ chết người năm 2013 của trung tâm mua sắm Rana, một tòa nhà thương mại 8 tầng ở Bangladesh, nơi đặt nhiều nhà máy may mặc sản xuất cho các thương hiệu phương Tây. Sau thảm họa, hàng trăm doanh nghiệp Mỹ và châu Âu đã ký 2 cam kết khác nhau với các nhà cung cấp địa phương về việc kiểm tra và cải thiện an toàn cũng như cung cấp kinh phí cho hoạt động này. Các Ủy ban an toàn đã được thiết lập được xem như một cơ chế để người lao động có thể nêu lên mối lo ngại một cách ẩn danh.

Kể từ đó, hàng chục nghìn cuộc kiểm tra nhà máy đã diễn ra; nâng cấp hệ thống điện, hệ thống báo cháy, cửa chống cháy và hệ thống phun nước đã được lắp đặt; và nền móng công trình đã được cải thiện. Gần 200 nhà máy không thực hiện cam kết sẽ mất hợp đồng vào năm 2021.

Trên thực tế, ngay cả những người chỉ trích cũng có xu hướng đồng ý rằng các công ty đa quốc gia có tác động này. Ví dụ, trong một cuốn sách chống lại chủ nghĩa tư bản toàn cầu, Noreena Hertz cũng thừa nhận rằng các tập đoàn nước ngoài “thường trả lương cao hơn và cung cấp điều kiện làm việc tốt hơn các tập đoàn địa phương” và họ “thường cải thiện điều kiện địa phương bằng cách xuất khẩu các tiêu chuẩn của riêng họ thay vì thích ứng với tiêu chuẩn địa phương”.

Thương mại cũng là một biện pháp khắc phục tình trạng lao động trẻ em và giúp giải thích sự sụt giảm tình trạng này được thể hiện trong Hình 2. Khi cha mẹ có được việc làm tốt hơn, họ đủ khả năng để từ bỏ tiền lương của con cái và thay vào đó là đầu tư vào giáo dục của con cái. Một nghiên cứu cho thấy rằng độ mở kinh tế của một quốc gia tăng 10% có liên quan đến việc giảm 7% lao động trẻ em. Tuy nhiên, có sự khác biệt đáng ngạc nhiên và quan trọng về hiệu quả tùy thuộc vào cách thức các hiệp định thương mại khu vực được thiết kế. Các thỏa thuận không có điều khoản xã hội cấm lao động trẻ em tăng tỷ lệ nhập học và giảm lao động trẻ em, nhưng ngược lại, các hiệp định thương mại cấm lao động trẻ em lại làm giảm tỷ lệ nhập học và tăng lao động trẻ em. Lời giải thích có vẻ là lệnh cấm lao động trẻ em làm giảm lương trẻ em, vì vậy các hộ nghèo sống dựa vào tiền lương phải bù đắp bằng cách bắt nhiều trẻ em làm việc nhiều giờ hơn trong nền kinh tế gia đình và thường là phi chính thức. Hay một giải pháp khác, mở ra cơ hội cho xuất khẩu lao động có tay nghề thấp là cách tốt để chống lại tình trạng sử dụng lao động trẻ em hơn là các lệnh cấm lao động trẻ em.

Nguồn: Cato

Từ khóa: toàn cầu hóa, việc làm, thương mại toàn cầu

Chuyên mục RCEP

JSN_TPLFW_TOGGLE_MENU

Phân tích - Bình luận

JSN_TPLFW_TOGGLE_MENU

Thư viện hội nhập

thu vien


phong ve thuong mai

Video

Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field

Liên kết

 

Lượt truy cập

008801722
Go to top