
Ngành công nghiệp Ấn Độ đủ kiên cường để đối mặt với sự cạnh tranh từ các nhà sản xuất nước ngoài.
Giao thương với nước ngoài là một hoạt động cổ xưa ở Ấn Độ. Ngay cả dưới chế độ thuộc địa, khi nền kinh tế suy thoái nhanh chóng, ngoại thương với các nước láng giềng, bao gồm cả Trung Quốc, vẫn tiếp tục phát triển. Bất chấp truyền thống trãi qua hàng thế kỷ, ngoại thương vẫn là mắt xích trọng yếu nhất của nền kinh tế trong nhiều thập kỷ. Gần đây dường như đã có sự hồi sinh khi xuất khẩu hàng hóa đạt mức kỷ lục 450 tỷ USD trong năm 2022-23. Nhưng điều này chủ yếu là do sự gia tăng nhu cầu toàn cầu sau đại dịch và thời kỳ bùng nổ rõ ràng đã kết thúc. Các báo cáo mới nhất cho thấy xuất khẩu giảm 22% trong tháng 6, phản ánh sự trì trệ của nền kinh tế toàn cầu do áp lực lạm phát và chính sách tiền tệ thắt chặt.
Về mặt tích cực, xuất khẩu dịch vụ tiếp tục khởi sắc. Đây là một khía cạnh của thương mại Ấn Độ đã bất chấp các xu hướng suy giảm và có vẻ sẽ tiếp tục trong trung và dài hạn. Một nghiên cứu gần đây của Morgan Stanley cho biết tỷ trọng của Ấn Độ trong xuất khẩu dịch vụ thế giới đã đạt mức cao nhất mọi thời đại là 4,9%, chủ yếu nhờ dịch vụ phần mềm. Tuy nhiên, các dịch vụ kinh doanh cũng đang đóng một vai trò quan trọng và chiếm 24% tổng kim ngạch xuất khẩu so với 46% của các dịch vụ phần mềm.
Một sự tương phản rõ rệt, thương mại hàng hóa có vẻ hoàn toàn phụ thuộc vào sự tăng trưởng nhu cầu ở các thị trường quốc gia phát triển quan trọng như Mỹ và châu Âu. Do đó, tỷ lệ thương mại hàng hóa của Ấn Độ vẫn đứng ở mức rất thấp, chỉ khoảng 2%, thấp hơn các quốc gia nhỏ như
Ireland. So sánh với tốc độ tăng trưởng hiện tại được thực hiện với Trung Quốc, đối tác láng giềng của đất nước ta đã đi trước rất nhiều ở mặt hàng hóa — Trung Quốc chiếm 12,5% tỷ lệ thương mại quốc tế, đây là mức lớn nhất so với bất kỳ quốc gia nào khác.
Nhưng vẫn còn một câu hỏi - điều gì gây khó khăn cho xuất khẩu của Ấn Độ, trong bối cảnh có một cơ sở công nghiệp nội địa khá lớn? Do đó, nó có thể đóng một vai trò rộng lớn hơn nhiều trong thương mại thế giới. Vấn đề đầu tiên, là sự sẵn có của một thị trường nội địa rộng lớn. Điều này giúp các nhà sản xuất, đặc biệt là các doanh nghiệp vừa và nhỏ, dễ dàng phục vụ thị trường nội địa hơn là đối mặt với những khó khăn của thị trường nước ngoài không quen thuộc. Có rất ít ngành công nghiệp tập trung hoàn toàn vào xuất khẩu và một trong số đó là những ngành công nghiệp truyền thống. Quần áo may sẵn, thủ công mỹ nghệ và đá quý và trang sức là một số lĩnh vực chủ yếu dựa vào xuất khẩu. Điều này không có nghĩa là hàng hóa sản xuất trong nước không được xuất khẩu lượng lớn, vì các sản phẩm dược phẩm, hàng công nghệ và sản phẩm dầu tinh chế cũng chiếm một phần lớn trong danh mục xuất khẩu.
Tuy nhiên, hầu hết các ngành công nghiệp chỉ hướng tới xuất khẩu khi thị trường trong nước đã bão hòa hoặc có thặng dư để xuất khẩu ra nước ngoài. Nói cách khác, ngành công nghiệp trong nước không tự động hướng tới xuất khẩu.
Lỗ hổng dài hạn thứ hai là việc không thể trở thành một phần của bất kỳ nhóm thương mại khu vực lớn nào. Hy vọng đã được đặt quá lâu vào Tổ chức Thương mại Thế giới để mang lại lợi ích cho các nền kinh tế mới nổi, trong khi cơ hội tham gia các hiệp định thương mại khu vực hoặc
song phương đã lần lượt bị bỏ qua. Quyết định rút lui khỏi Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện Khu vực (RCEP) đã được đưa ra với sự cân nhắc kỹ lưỡng và lo ngại về làn sóng hàng nhập khẩu giá rẻ của Trung Quốc có thể tràn vào qua các nước thứ ba. Tuy nhiên, các biện pháp chủ động cần thiết nên được thực hiện từ lâu để tham gia vào các nhóm thương mại khu vực khác. Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ Xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) gồm 11 thành viên là một ví dụ về một hiệp định thương mại lớn sẽ hữu ích để hỗ trợ các nỗ lực xuất khẩu của đất nước. Ngay cả hiện tại, những nỗ lực có thể được thực hiện để tham gia vào nhóm này, trong đó bao gồm Úc, Nhật Bản và Malaysia nhưng đã loại trừ Trung Quốc một cách cẩn thận.
Đối với các hiệp định thương mại song phương, một trong những hiệp định quan trọng nhất với Liên minh châu Âu đã tạm dừng trong 10 năm. Các cuộc đàm phán chỉ mới được nối lại gần đây với một khu vực là một trong những đối tác thương mại lớn nhất của Ấn Độ. May mắn thay, gần đây dường như đã có sự công nhận rằng việc tham gia nhiều hiệp định thương mại tự do (FTA) như vậy sẽ mang lại lợi ích cho đất nước. Điều này có thể là động lực đằng sau việc kết thúc những thỏa thuận với Úc và Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất, trong khi những thỏa thuận khác với Hội đồng Hợp tác vùng Vịnh gồm sáu thành viên và một thỏa thuận quan trọng với Vương quốc Anh đang được thúc đẩy với sự quyết liệt mà đã bị thiếu sót trong những năm gần đây.
FTA với Hiệp hội Thương mại Tự do Châu Âu (EFTA) đã bị đóng băng bảy năm trước cuối cùng đã được hồi sinh với sự công nhận rằng đối thoại là con đường duy nhất để tiến tới, ngay cả đối với các vấn đề gây tranh cãi. Các chủ đề phi thương mại như môi trường, lao động và thương mại kỹ thuật số hiện đang được đàm phán để đạt được thỏa thuận tốt hơn cho đất nước. Trong trường hợp của EFTA, lợi ích có thể là khả năng tiếp cận dễ dàng hơn đối với các chuyên gia lành nghề trong khu vực bao gồm các cường quốc công nghệ cao như Thụy Sĩ, Na Uy và Iceland, ngoài Liechtenstein.
Và cuối cùng, một trong những rào cản đối với tăng trưởng xuất khẩu cao hơn là tư duy bảo hộ đã gia tăng trong những năm gần đây. Trong khi mức thuế nhập khẩu của Trung Quốc và các quốc gia Đông Nam Á thấp hơn đáng kể, hoạt động xuất khẩu của các nền kinh tế này cũng tốt hơn nhiều. Do đó, không có mối tương quan giữa việc áp thuế nhập khẩu cao hơn để bảo vệ ngành công nghiệp trong nước và xuất khẩu.
Đã đến lúc loại bỏ những quan điểm sai lầm cũ về hàng rào bảo hộ nhập khẩu. Ngành công nghiệp Ấn Độ đã trưởng thành và đủ kiên cường để đối mặt với sự cạnh tranh từ các nhà sản xuất nước ngoài. Hỗ trợ cho ngành công nghiệp trong nước đã được cung cấp thông qua các chương trình mới như các chương trình khuyến khích liên kết sản xuất (PLI). Những điều này hiệu quả hơn rất nhiều trong việc thúc đẩy lĩnh vực sản xuất hơn là chỉ cố gắng làm cho các sản phẩm nhập khẩu đắt hơn. Chính sách 'atmanirbhar' gợi lại những ký ức về chế độ thay thế hàng nhập khẩu cũ vốn là nền tảng của thời đại Giấy phép Raj. Hiện đã có sự gia tăng dần dần về thuế nhập khẩu trung bình, hiện đang cao gấp đôi so với thuế nhập khẩu ở Trung Quốc và các nền kinh tế Đông Nam Á. Đây là xu hướng cần phải đảo ngược nếu Ấn Độ muốn một lần nữa đóng vai trò quan trọng trên thế giới với tư cách là một quốc gia thương mại lớn.
Nguồn: Tribune India
Từ khóa: rào cản, bảo hộ, cạnh tranh, thỏa thuận
Các tin khác
- Vị thế của Đồng đô la Mỹ đang bị thách thức bởi các công ty khởi nghiệp về kỹ thuật số - 19/07/2023
- Bộ trưởng Thương mại và Công nghiệp Piyush Goyal thăm Vương quốc Anh để thúc đẩy FTA Ấn Độ-Anh – Kỳ vọng điều gì - 19/07/2023
- Nga rút khỏi thoả thuận ngũ cốc, an ninh lương thực toàn cầu bấp bênh hơn - 19/07/2023
- "Con hổ châu Á mới” đang bị đuối sức - 19/07/2023
- Cần cấu trúc lại tổng cầu của nền kinh tế - 19/07/2023






















