JSN_TPLFW_TOGGLE_MENU
Phân tích - Bình luậnHội nhập kinh tế quốc tếTại sao 'phi toàn cầu hóa' ít có tác dụng

Tại sao 'phi toàn cầu hóa' ít có tác dụng

De globalization 768x432

Nhà nước sẽ không có bất kỳ sự can thiệp nào nếu dòng vốn toàn cậu không bị hạn chế

Ngày nay, nhiều nhà kinh tế bàn luận về quá trình “phi toàn cầu hóa” đang diễn ra; một số chuyên gia khác cho rằng chế độ tân tự do của những năm qua không còn tồn tại nữa. Tất nhiên, không có gì là mãi mãi: như nhà triết học Hy Lạp Heraclitus đã nói, “Bạn không thể tắm hai lần trên cùng một dòng sông.” Do đó, một số thay đổi trật tự về chế độ tân tự do là không thể tránh khỏi theo thời gian. Nhưng vấn đề thực sự là: khung phân tích được sử dụng để hiểu thực tế kinh tế của thế giới đương đại, việc thay đổi của nền kinh tế, có trở nên quá trễ không? và những vấn đề quan trọng cần được sửa đổi là gì?

Cần phải nhớ rằng “toàn cầu hóa” không có nghĩa là các quốc gia khác nhau trên thế giới cùng nhau tự nguyện thiết lập một trật tự toàn cầu có lợi cho cả hai bên. Gần 50 quốc gia trên thế giới ngày nay đang phải hứng chịu các loại “trừng phạt” khác nhau. Các quốc gia bị ngăn cản tiếp cận các mặt hàng thiết yếu, thâm chí trong một số trường hợp là loại thuốc dùng trong cấp cứu, từ thị trường toàn cầu. Và các trường hợp này đã xảy ra hơn một thập kỷ trước khi “toàn cầu hóa” được mọi người công nhận là đang diễn ra mạnh mẽ.

Do đó, “toàn cầu hóa” cũng có hàm ý hoàn toàn khác. Điều này có nghĩa là sự ra đời của một giai đoạn của chủ nghĩa tư bản trong đó nguồn vốn, trên hết là vấn đề về tài chính, đã trở nên toàn cầu hóa bằng cách mở cửa cho các nền kinh tế tự do. Do đó, việc toàn cầu hóa đã hạn chế khả năng kiểm soát về vấn đề tài chính của các “quốc gia dân tộc”. Và nguồn vốn toàn cầu hóa này đã được sự ủng hộ trong các hoạt động toàn cầu, trên hết là của các quốc gia phát triển và các quốc gia khác theo mặc định. Các quốc gia phát triển, đặc biệt là Hoa Kỳ, đã quyết định áp dụng lệnh trừng phạt đối với quốc gia nào, cũng đồng nghĩa các quốc gia khác sẽ tuân theo.

Do đó, “toàn cầu hóa” thể hiện sự tái lập quyền bá chủ của chủ nghĩa đế quốc phương Tây trên toàn thế giới, ngoại trừ các nước xã hội chủ nghĩa. Nhưng các nước đã được phi thực dân hóa vào khoảng giữa thế kỷ 20 buộc thực thiện theo, ngay cả khi thúc đẩy sự phát triển tư bản chủ nghĩa, nhiều loại chính sách chiến lược về dirigiste. Nói cách khác, “toàn cầu hóa” có nghĩa là phá bỏ bất kỳ quyền liên quan đến tự chủ đối với chủ nghĩa đế quốc trong các quốc gia phi xã hội chủ nghĩa thuộc Thế giới thứ ba.

Toàn cầu hóa không chỉ đề cập đến dịch chuyển nguồn vốn mà còn có nghĩa là sự lưu thông không hạn chế đối với hàng hóa và dịch vụ xuyên biên giới các quốc gia (tất nhiên là trừ các quốc gia phải đối mặt với “các lệnh trừng phạt”).

Điều đã xảy ra trong giai đoạn “toàn cầu hóa” này là sự xuất hiện của các cường quốc kinh tế mới có thể làm những cường quốc đế quốc phương Tây cảm thấy bị đe dọa. Những nước này bao gồm Nga, quốc gia được thừa hưởng cơ sở sản xuất khổng lồ do Liên Xô xây dựng và là quốc gia mà các cường quốc phương Tây nghĩ rằng họ đã khuất phục, cho đến khi có sự tái khẳng định sức mạnh của mình sau khi Boris Yeltsin rời nhiệm sở. Tương tự, Trung Quốc vốn có những chiến lược “toàn cầu hóa” theo cách riêng của mình hơn là do các cường quốc phương Tây sai khiến. Tốc độ tăng trưởng của Trung Quốc rất nhanh bởi vì quốc gia này được thừa hưởng khả năng tiếp cận thì trường từ các nước tư bản phát triển trên thế giới.

Hiện tại, Nga đã bị “trừng phạt” sau Chiến tranh với Ukraine; và thương mại của thế giới phương Tây với Trung Quốc đã giảm ở một mức độ nào đó, do tác động chính trị trong thời gian gần đây nhằm mục đích thu hẹp quy mô thương mại với Trung Quốc.

Đối với Hoa Kỳ việc thúc đẩy nổ lực thu hẹp phạm vi nhằm bảo vệ việc làm trong nước (mặc dù một lượng lớn hàng nhập khẩu từ Trung Quốc của Hoa Kỳ được sản xuất tại Trung Quốc bởi sự đầu tư trực tiếp của doanh nghiệp Hoa Kỳ) và mong muốn mạnh mẽ không còn quá phụ thuộc vào nhập khẩu hàng hóa. Các quốc gia phát triển khác cũng phần nào gây áp lực cho Hoa Kỳ. Tuy nhiên, trong số những yếu tố này, mong muốn không quá phụ thuộc vào Trung Quốc là yếu tố quyết định hơn nhiều.

Mối lo ngại của Hoa Kỳ đối với hàng nhập khẩu ngày càng tăng nhanh từ Trung Quốc bắt đầu từ thời của George Bush Jr.; và tiếp tục dưới thời Obama- người đã trừng phạt các công ty Hoa Kỳ chuyển sản xuất ra nước ngoài. Nhưng chính Donald Trump đã áp đặt thuế quan để bảo vệ sản xuất trong nước trước hàng nhập khẩu từ nước ngoài; Trung Quốc là mục tiêu chính của các mức thuế này.

Dưới đây là hai ví dụ nhấn mạnh động cơ chính trị áp đảo đằng sau việc phương Tây giảm quy mô thương mại với Trung Quốc. Liên minh châu Âu đã đề xuất một quy tắc rằng các tấm pin mặt trời được sử dụng để khử cacbon ở châu Âu không được nhập khẩu từ bất kỳ quốc gia nào chiếm hơn 65% thị phần. Quy tắc này chỉ nhằm mục đích loại trừ Trung Quốc, quốc gia chiếm 85% thị trường do giá tấm nền mà nước này cung cấp cực thấp. Tóm lại, châu Âu sẵn sàng chi trả cao hơn nhiều cho các tấm pin mặt trời chỉ để ngăn Trung Quốc, đây là một quyết định được thúc đẩy hoàn toàn bởi những cân nhắc về địa chính trị.

Tương tự như vậy, lệnh cấm xuất khẩu chất bán dẫn sang Trung Quốc của chính quyền Joe Biden, vốn được áp đặt trái với mong muốn của các công ty trong chính Hoa Kỳ, và gây ra mối đe dọa lớn đối với các ngành công nghệ cao ở Trung Quốc, bao gồm cả công nghệ quân sự và trí tuệ nhân tạo, được thúc đẩy hoàn toàn bởi những cân nhắc về địa chính trị, mong muốn duy nhất là hạn chế sức mạnh Trung Quốc về kinh tế và công nghệ.

Nói cách khác, mặc dù hiện tại không có biện pháp trừng phạt rõ ràng nào đối với Trung Quốc, nhưng những gì chúng ta đang thấy là một sự áp đặt các biện pháp trừng phạt ngầm, hoặc là để chuẩn bị cho một thời điểm trong tương lai khi sẽ có các biện pháp trừng phạt rõ ràng.

Trên thực tế, cái được gọi là “phi toàn cầu hóa” đề cập đến toàn bộ xu hướng mới này của các cường quốc phương Tây là phân biệt đối xử với Trung Quốc, mong muốn không trở nên quá phụ thuộc vào Trung Quốc. Về bản chất của các chiến lược là đa dạng hóa quan hệ thương mại từ Trung Quốc sang các nước khác, mặc dù sự đa dạng hóa đó có thể mang lại tốn kém hơn. Sự sụt giảm gần đây về mức độ thương mại của Hoa Kỳ với Trung Quốc là hệ quả của điều này. Cứ như thể Trung Quốc đang bị thêm vào danh sách các quốc gia chịu lệnh trừng phạt của phương Tây.

Thật thú vị, không có sự suy giảm thực tế nào trong các tham số cấp vĩ mô, chẳng hạn như tỷ lệ tổng nhập khẩu thế giới trên GDP thế giới, mà một số nhà kinh tế đã sử dụng để đo lường mức độ “toàn cầu hóa”. Kết quả các nhà kinh tế tìm thấy chỉ là sự chậm lại của tiến trình “toàn cầu hóa” nhưng không phải là sự đảo ngược của nó.

Tuy nhiên, như đã đề cập trước đó, “toàn cầu hóa” theo không đề cập nhiều đến hiện tượng các quốc gia trở nên phụ thuộc vào nhau nhiều hơn; về cơ bản nó đề cập đến một mối quan hệ quyền lực. Quyền lực này được thực thi thông qua “các biện pháp trừng phạt” áp đặt đối với các quốc gia cụ thể cũng như thông qua việc lôi kéo các quốc gia vào vòng xoáy “toàn cầu hóa”. Việc thực thi quyền lực này là dấu hiệu của chủ nghĩa đế quốc. “Các biện pháp trừng phạt” là biểu hiện sự tàn nhẫn của chủ nghĩa đế quốc cũng như “toàn cầu hóa” kéo theo quyền bá chủ của tư bản toàn cầu hóa. Nói cách khác, cái gọi là “phi toàn cầu hóa” không phải là sự phủ định “toàn cầu hóa” mà là sự bổ sung cho nó.

Dòng vốn toàn cầu hóa chủ yếu đến từ các quốc gia tư bản phát triển và bị cuốn vào hoạt động của các quốc gia đó. Do đó, quyền làm chủ về vốn toàn cầu là quyền của các quốc gia phát triển, được thực hiện đối với người dân trên thế giới, và đặc biệt là đối với người dân của Thế giới thứ ba.

Biện pháp để vượt qua sự thống trị ngày nay không khác gì so với cách đây một thập kỷ. Mọi cải thiện về điều kiện của người lao động đều cần có sự can thiệp của Nhà nước. Để làm được điều này, Nhà nước phải có khả năng can thiệp mà không bị gò bó bởi nỗi sợ của việc “tháo chạy vốn”. Nhưng chừng nào đất nước còn bị mắc kẹt trong vòng xoáy của dòng vốn không bị hạn chế này, Nhà nước khó có thể quyết định. Do đó, việc kiểm soát dòng vốn trở nên cần thiết.

Nói cách khác, việc cải thiện điều kiện vật chất của người dân không chỉ đòi hỏi sự thay đổi về bản chất của Nhà nước, cụ thể là dựa trên sự hỗ trợ của công nhân và nông dân; ngoài ra, nó đòi hỏi không nên quá phụ thuộc vào dòng vốn tự do. Tuy nhiên, chỉ sự hỗ trợ của người dân lao động là không đủ. Việc kiểm soát các dòng vốn cũng rất cần thiết nếu phải tuân theo một loạt các chính sách vì quyền lợi của người dân, mặc dù việc kiểm soát như vậy rất có thể thu hút “các biện pháp trừng phạt” của chủ nghĩa đế quốc.

Điều này vẫn đúng cho đến ngày nay cũng như cách đây một thập kỷ. Cái gọi là “phi toàn cầu hóa” mà một số nhà kinh tế đang nói đến không tạo ra chút khác biệt nào đối với nhu cầu thuần túy này để đối đầu với quyền lực về vốn toàn cầu mà đằng sau là nhóm các quốc gia phát triển.

Nguồn: Peoplesdispatch

Từ khóa: phi toàn cầu hóa, toàn cầu hóa, Hoa Kỳ- Trung Quốc

Chuyên mục RCEP

JSN_TPLFW_TOGGLE_MENU

Phân tích - Bình luận

JSN_TPLFW_TOGGLE_MENU

Thư viện hội nhập

thu vien


phong ve thuong mai

Video

Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field

Liên kết

 

Lượt truy cập

008804489
Go to top