
Từ sau khi bị cảnh báo thẻ vàng IUU, tỉ trọng xuất khẩu hải sản của Việt Nam sang châu Âu giảm dần qua từng năm.
Ngày 23-10-2017, Ủy ban châu Âu (EC) đã ra cảnh báo thẻ vàng với thủy sản khai thác của Việt Nam (VN). Sau hơn năm năm nỗ lực, VN vẫn chưa gỡ được thẻ vàng vì chưa khắc phục được những tồn tại theo khuyến nghị của EC.
Pháp Luật TP.HCM đã có cuộc trao đổi với bà Lê Hằng, Giám đốc truyền thông Hiệp hội Chế biến và xuất khẩu thủy sản VN (VASEP), nhằm làm rõ hơn về những khó khăn của doanh nghiệp (DN), những tác động của thẻ vàng IUU tới xuất khẩu thủy hải sản của VN.
Xuất khẩu hải sản qua châu Âu giảm dần
. Phóng viên: Kể từ khi thủy sản VN bị EC cảnh báo thẻ vàng, điều này đã gây khó khăn thế nào đến hoạt động xuất khẩu thủy sản của VN cũng như hoạt động sản xuất, kinh doanh của DN, đời sống của ngư dân, thưa bà?
+ Bà Lê Hằng: Việc bị cảnh báo thẻ vàng đã ảnh hưởng rất lớn đến xuất khẩu hải sản nói riêng và xuất khẩu thủy sản nói chung của VN. Trước khi bị cảnh báo thẻ vàng, giai đoạn 2015-2017 châu Âu (EU) từng là thị trường nhập khẩu hải sản nhiều nhất của VN, chiếm 30%-35% xuất khẩu hải sản của VN.
Thế nhưng từ sau khi bị cảnh báo thẻ vàng IUU, tỉ trọng xuất khẩu hải sản của VN sang EU giảm dần qua từng năm. Qua thống kê của VASEP, năm 2018 - năm đầu tiên sau khi bị cảnh báo thẻ vàng, tỉ trọng xuất khẩu hải sản sang EU chiếm 11,8%. Sang năm 2019, con số này suy giảm còn 10,7% và còn 9,5% vào năm 2020. Đến năm 2022, sau năm năm, tỉ trọng đã giảm còn 9,4%.
Xuất khẩu hải sản suy giảm cũng kéo theo tỉ trọng xuất khẩu thủy sản nói chung của VN sang EU giảm theo, từ 13,1% (năm 2018) còn 11,9% (năm 2022).
. Việc xuất khẩu hải sản của VN sang EU giảm như vậy gây khó khăn thế nào tới hoạt động sản xuất, kinh doanh của các DN? DN có phải tìm kiếm thêm các thị trường khác không, thưa bà?
+ Rõ ràng là có sự chuyển dịch của các DN thủy sản. Thứ nhất, các DN chuyển hướng sang các thị trường khác như Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc. Thứ hai, xu hướng gia công cho các nhà kinh doanh thủy sản ở các nước, xuất khẩu trở lại các nước đó, nhất là gia công các loài cá biển như cá tuyết, cá sa ba, cá thu, cá minh thái... Đó là cách vừa tận dụng được công suất chế biến vừa tạo được việc làm cho công nhân và vừa không bị áp lực về vấn đề nguyên liệu, truy xuất nguồn gốc theo quy định IUU.
Ngay cả xuất khẩu sang EU bây giờ cũng có một tỉ trọng đáng kể là hàng gia công, chứ nguyên liệu thuần túy trong nước vừa khan hiếm, lại vừa khó làm giấy xác nhận khai thác (SC) và chứng nhận khai thác (CC) đáp ứng quy định IUU của thị trường này.
. Bà đánh giá thế nào về xu hướng chuyển dịch thứ hai này của các DN?
+ Đó là xu hướng tất yếu và hoàn toàn phù hợp, không chỉ riêng của VN. Trung Quốc và Thái Lan là những nước có hoạt động gia công, chế biến xuất khẩu nổi trội. Nhưng những năm gần đây, chiến tranh thương mại và chính sách “zero COVID” của Trung Quốc (trước đây) đã khiến nhiều nhà đầu tư nước ngoài chuyển dịch hoạt động gia công sang các nước châu Á khác, trong đó có VN. Đây là cơ hội tốt cho ngành chế biến thủy sản VN.
Nhóm khuyến nghị của Ủy ban châu Âu
Ủy ban châu Âu (EC) đưa ra bốn nội dung quan trọng mà VN cần phải đáp ứng. Đó là khung pháp lý cần tiếp tục rà soát, điều chỉnh một số quy định để tăng cường hiệu lực, hiệu quả chống khai thác IUU.
Thứ hai là quản lý đội tàu, theo dõi, kiểm tra, kiểm sát tàu cá. Đây là bài toán rất lớn, mặc dù chúng ta đã lắp hơn 95% thiết bị nhưng số còn lại lại là đối tượng nguy cơ cao. Số lượng tàu vi phạm vùng biển nước ngoài vẫn còn. Từ đầu năm đã có sáu tàu vi phạm vùng biển nước ngoài, chủ yếu ở Malaysia. Nếu không quản lý được đội tàu, tàu còn vi phạm vùng biển nước ngoài thì không gỡ được thẻ vàng. Đây là vấn đề mấu chốt phải giải quyết.
Ba là về truy xuất nguồn gốc, quản lý cả sản phẩm nhập khẩu và sản phẩm đánh bắt trên biển. Hồ sơ truy xuất hiện nay còn mang tính chất đối phó, đặc biệt là việc ghi, nộp nhật ký còn nhiều sai sót và mới đạt khoảng 45%; mới giám sát được 50% sản lượng qua cảng đối với tàu cá có chiều dài từ 15 m trở lên dẫn đến chưa đảm bảo được độ tin cậy trong công tác truy xuất nguồn gốc thủy sản.
Bốn là việc thực thi pháp luật và xử lý vi phạm còn chưa đồng đều, chưa có hiệu lực, hiệu quả. Ngoài ra, hạ tầng nghề cá vẫn còn rất yếu kém, chỉ mới đáp ứng 15%-18%...
Phải nhanh chóng tháo gỡ thẻ vàng
. Khi DN bị ảnh hưởng bởi thẻ vàng IUU phải chuyển hướng xuất khẩu thì ở trong nước ngư dân bị ảnh hưởng như thế nào, thưa bà?
+ Ngư dân bị ảnh hưởng như thế nào thì tôi không đại diện cho họ để ý kiến được. Nhưng đương nhiên, với những thủ tục phức tạp, họ không đáp ứng thì khó bán được cho những đại lý muốn thu mua hàng đi EU. Họ sẽ bán cho đại lý để xuất khẩu đi thị trường khác hoặc nội địa.
. Được biết ngoài EU, câu chuyện về chống khai thác IUU, xây dựng một nghề cá bền vững cũng đang được các thị trường khác tiến đến. Và như vậy, câu chuyện gỡ thẻ vàng, đáp ứng các khuyến nghị của EC là bắt buộc không chỉ cho EU mà tương lai là tất cả thị trường?
+ Đúng vậy! Hiện nay không chỉ thị trường EU mà Mỹ hay Nhật Bản cũng đang thực hiện các yêu cầu về biểu mẫu truy xuất nguồn gốc… Vì vậy, chúng ta phải thực hiện nghiêm các quy định của các tổ chức quốc tế và tháo gỡ thẻ vàng là nhiệm vụ rất quan trọng.
. Xin cảm ơn bà.
Nguồn: Pháp luật
Từ khóa: xuất khẩu, hải sản, châu Âu, Việt Nam, EU
Các tin khác
- Những bài học sau 7 năm Brexit - 06/06/2023
- Các nước đua nhau giảm thuế thu hút FDI, Việt Nam trở nên kém hấp dẫn hơn trước - 06/06/2023
- Để sự chuyển dịch sản xuất sang Việt Nam đến cùng ‘quả ngọt’ - 06/06/2023
- Xuất khẩu nông sản bền vững, cách nào? - 06/06/2023
- Tiếp cận thị trường lớn nhất thế giới: Serbia hướng tới thỏa thuận thương mại tự do với Trung Quốc - 06/06/2023






















