JSN_TPLFW_TOGGLE_MENU
Phân tích - Bình luậnHội nhập kinh tế quốc tếSự trỗi dậy của các quốc gia có sức ảnh hưởng về địa chính trị - Phần 1

Sự trỗi dậy của các quốc gia có sức ảnh hưởng về địa chính trị - Phần 1

dia chinh tri

Vào những năm 2020, mọi thứ đều mang tính địa chính trị. Đại dịch toàn cầu, cuộc chiến của Nga với Ukraine và sự cạnh tranh ngày càng gay gắt giữa Mỹ và Trung Quốc là minh chứng không thể phủ nhận cho kỷ nguyên toàn cầu hóa đã lỗi thời.

Mỗi cường quốc đều có một vị trí đặc quyền trong nền kinh tế toàn cầu, và tất cả các cường quốc đều phải đối mặt với những rủi ro mới và sự không ổn định trong tương lai. Mỹ đang dựa nhiều hơn vào vị thế của mình với tư cách là người nắm giữ đồng tiền dự trữ của thế giới, sử dụng đồng đô la Mỹ và các hệ thống thanh toán liên quan để trừng phạt các đối thủ và đối thủ cạnh tranh. Trung Quốc đang tận dụng sự phụ thuộc vào vị thế của mình trong chuỗi cung ứng. Và Nga – không có quyền lực bằng Trung Quốc hay Mỹ, nhưng lại thích mạo hiểm hơn – đã sử dụng quyền lực để đe dọa và ép buộc các nước láng giềng và hạn chế hỗ trợ toàn cầu cho Ukraine. Không có quốc gia hay tổ chức đa phương nào có khả năng phân xử những căng thẳng này.

Nhưng thực tế những bất ổn về địa chính trị như vậy không có nghĩa là các quốc gia hoặc tổ chức khác bất lực, và chờ đợi vụ việc lắng xuống khi có người chiến thắng trong nền địa chính trị - Chiến tranh Lạnh trước đây không phải như vậy, thậm chí có một số mô hình được gợi nhớ lại như cuộc chiến tranh lạnh. Khi Mỹ và Liên Xô xảy ra căng thẳng địa chính trị trong bốn thập kỷ và được George Orwell mô tả là “một nền hòa bình không có hòa bình”, các quốc gia còn lại của thế giới có ba lựa chọn. Các quốc gia có thể tham gia hệ thống liên minh hoặc theo ảnh hưởng của Mỹ, các quốc gia cũng có thể tham gia khối Cộng sản hoặc cố gắng duy trì trạng thái không liên kết.

Tuy nhiên, thế giới ngày nay được kết nối nhiều hơn so với thời Chiến tranh Lạnh và tốc độ của các sự kiện diễn ra nhanh hơn. Nếu không liên kết sẽ gặp nhiều khó khăn hơn cả về lý thuyết và thực tế. Khi Mỹ và Trung Quốc cùng tồn tại, cạnh tranh và đối đầu với nhau để xác định ai sẽ thiết lập các quy tắc địa chính trị, hai quốc gia này sẽ kêu gọi hoặc ngăn cản một nhóm các quốc gia mới nổi để giành lợi thế. Nhóm các quốc gia có ảnh hưởng mới này là những quốc gia có phạm vi ảnh hưởng đến địa chính trị trong thế kỷ 21.

Có thể thấy trong cuộc chiến chính trị nội bộ của Mỹ, một trong hai bên có thể giành chiến thắng ở các bang vốn có nhiều bất ổn và các bang này sẽ quyết định các cuộc bầu cử tổng thống.

Về khía cạnh địa chính trị, các quốc gia có nhiều biến động sẽ có bộ phận vạch ra hướng đi của riêng họ dựa trên từng vấn đề và quyết định tương lai của cán cân quyền lực quốc tế. Đối với những quốc gia tương đối ổn định, cũng có các chương trình nghị sự toàn cầu của riêng mình, độc lập với Washington và Bắc Kinh, đồng thời có ý chí và khả năng biến những chương trình nghị sự đó thành hiện thực.

Các quốc gia đang ngày càng quyết đoán hơn trong việc sử dụng lợi thế kinh tế để củng cố vị thế và sức ảnh hưởng của mình. Họ có sự kiểm soát hơn, linh hoạt, năng động và chiến lược hơn so với những gì họ có trong thế kỷ 20, bất kể lợi ích chung với cường quốc này hay cường quốc khác.

Và các quốc gia này thường sẽ chọn liên kết đa phương, một chiến lược sẽ khiến họ trở thành những lực lượng quan trọng và đôi khi không thể đoán trước trong giai đoạn toàn cầu hóa tiếp theo của thế giới hay giai đoạn tiếp theo của cuộc cạnh tranh giữa các cường quốc.

Kỷ nguyên của sự đa liên kết

Cuộc chiến của Nga ở Ukraine là một bước ngoặt chứng tỏ tầm quan trọng của các hệ thống liên minh dân chủ và hỗ trợ chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ. Như Richard Fontaine của Trung tâm An ninh hiện đại của Mỹ đã lập luận, “Đến cuối cùng cuộc chiến của [Putin] có thể khiến NATO lớn hơn, thống nhất hơn, được trang bị vũ khí tốt hơn và triển khai quân sự gần Nga hơn… Một cuộc chiến tranh trên bộ của lục địa cũng có thể giúp sinh ra một châu Âu mới.” Cùng với tuyên bố về “quan hệ đối tác không giới hạn” của Nga với Trung Quốc, cuộc chiến cũng có thể mang lại mục đích mới cho việc liên minh xuyên Đại Tây Dương. Nhưng phần lớn dân số thế giới vẫn sống ở các quốc gia giữ thái độ trung lập, ngay cả khi họ lên án Nga xâm lược. Các chiến tuyến ở Ukraine và những gì đã xảy ra kể từ ngày 24 tháng 2 năm 2022, đã khiến kỷ nguyên đa liên kết trở nên rõ rệt hơn.

Ấn Độ, hiện đang giữ chức chủ tịch G20, một ví dụ điển hình của một quốc gia có vai trò địa chính trị phức tạp và có ảnh hưởng mới. Bộ trưởng Ngoại giao New Delhi, Subrahmanyam Jaishankar, cho biết rằng chúng ta đang chứng kiến ​​sự kết thúc của một “trật tự thế giới vẫn còn rất, rất đậm chất phương Tây” và sự trỗi dậy của một kỷ nguyên trong đó các quốc gia như Ấn Độ sẽ theo đuổi “các chính sách và lợi ích đặc biệt của riêng họ”. Lập luận của Jaishankar rằng cuộc chiến của Nga với Ukraine đang mở ra sự kết thúc của một hệ thống quốc tế do phương Tây lãnh đạo vốn đang có nhiều tranh cãi.

Tuy nhiên quan điểm của ông cho rằng các quốc gia có biến động địa chính trị như Ấn Độ có mức độ tự chủ cao - thậm chí còn hơn cả những quốc gia không liên kết trong Chiến tranh Lạnh - là đúng. Ấn Độ có nhiều lợi thế về cấu trúc nhưng cũng có nhiều hạn chế, bao gồm tỷ lệ biết chữ và lực lượng lao động có trình độ thấp, đặc biệt là đối với phụ nữ. Nhưng hiện tại Ấn Độ là quốc gia đông dân nhất thế giới và có dân số tương đối trẻ. GDP của Ấn Độ bằng 1/6 của Trung Quốc, nhưng với các chính sách công nghiệp hóa và cơ sở hạ tầng phù hợp, nền kinh tế của nó có thể tăng gấp đôi quy mô vào năm 2030, trở thành nền kinh tế lớn thứ ba trên hành tinh. Khi Ấn Độ tiếp tục tăng trưởng kinh tế, việc loại trừ nước này khỏi G7 sẽ chỉ trở nên đáng tiếc.

Mặc dù New Delhi đang tiến gần hơn đến phương Tây thông qua các quan hệ đối tác như Quad và các thỏa thuận quốc phòng và công nghệ mới với Mỹ, nhưng điều đó không có nghĩa Ấn Độ thuộc về khối này hay khối khác. Jaishankar đã phản ứng lại cuộc xâm lược của Nga bằng cách tuyên bố rằng "Châu Âu phải thoát khỏi suy nghĩ rằng các vấn đề của Châu Âu là vấn đề của thế giới nhưng các vấn đề của thế giới không phải là của Châu Âu." Và bất chấp các biện pháp trừng phạt của phương Tây đối với Nga, Ấn Độ đã tăng nhập khẩu từ Nga gần 400%, phần lớn trong số đó dưới dạng dầu thô được mua giảm giá.

Ấn Độ có khả năng liên kết đa phương không chỉ nhờ hành động của chính họ mà còn nhờ môi trường địa chính trị rộng lớn hơn. Để các quốc gia có  phạm vi ảnh hưởng về địa chính trị theo đuổi quyền ưu tiên của mình và hai cường quốc địa chính trị của thế giới—Mỹ và Trung Quốc—không được để mối quan hệ song phương của họ biến thành cuộc chiến tranh toàn diện, chuyển các quyết định địa chính trị từ quyền ưu tiên sang quyết định sống còn.

Các khuôn khổ đối lập như “các nền dân chủ so với các chế độ chuyên quyền” không có đủ khả năng giải thích cho thế giới đa liên kết, phức tạp hơn trong bối cảnh hiện tại. Chủ tịch Ủy ban Châu Âu- Ursula von der Leyen gần đây đã nói về tầm quan trọng của việc “giảm thiểu rủi ro”, nếu không muốn nói là “tách rời” nền kinh tế Châu Âu khỏi Trung Quốc— theo lời văn của cố vấn An ninh Quốc gia Mỹ-  Jake Sullivan. Tuy nhiên, vài ngày sau phát biểu của Von Der Leyen, Tổng thống Pháp - Emmanuel Macron, cùng với một phái đoàn doanh nghiệp quan trọng ở Bắc Kinh, đã có một giọng điệu khác, cho rằng châu Âu phải “giảm bớt sự phụ thuộc vào Mỹ và tránh bị lôi kéo vào cuộc đối đầu giữa Trung Quốc và Mỹ về vấn đề Đài Loan”. Hơn nữa, Luiz Ignacio Lula da Silva của Brazil đã đến Trung Quốc trong những tuần gần đây, cùng với 240 nhà lãnh đạo doanh nghiệp, và cho biết ông tự hỏi “hàng đêm… tại sao tất cả các quốc gia phải dựa vào đồng đô la Mỹ để giao dịch”.

Mặc dù lời kêu gọi các giá trị dân chủ vang dội ở nhiều thủ đô phương Tây và các xã hội tự do, nhưng không phải lúc nào chúng cũng phổ biến ở các quốc gia là đối tác quan trọng của Mỹ và các đồng minh trong cuộc cạnh tranh toàn cầu ngày nay.

Ví dụ, mặc dù Ấn Độ là nền dân chủ đông dân nhất thế giới, nhưng nước này giao dịch với các chế độ chuyên quyền như Nga – quốc gia cung cấp một phần đáng kể vũ khí cho New Delhi. Singapore đã bị loại khỏi Hội nghị thượng đỉnh vì dân chủ của Bộ Ngoại giao Mỹ và vẫn duy trì mối liên hệ sâu sắc với Trung Quốc, nhưng vẫn tham gia các quốc gia trừng phạt tài chính phản đối Nga xâm lược Ukraine. Việt Nam là một đối tác quan trọng của Mỹ trong ASEAN, nhưng Trung Quốc là điểm đến thương mại hàng đầu. Những gã khổng lồ về năng lượng của khối GCC đang điều hướng hành động cân bằng một cách tinh vi với tư cách là đối tác chính của Trung Quốc, Nga và Mỹ.

Sự trỗi dậy của quốc gia tầm ảnh hưởng về địa chính trị

Các quốc gia có tầm ảnh hưởng về địa chính trị rất quan trọng đối với nền kinh tế thế giới trong việc cân bằng quyền lực, nhưng bản thân họ không có khả năng thúc đẩy chương trình nghị sự toàn cầu, ít nhất là cho đến thời điểm hiện tại. Tuy nhiên, khi căng thẳng giữa Mỹ và Trung Quốc tiếp tục trở nên tồi tệ hơn, các quốc gia này sẽ có có khả năng để điều hướng cuộc cạnh tranh địa chính trị cũng như tận dụng và tạo nên sức ảnh hưởng. Họ biết điều này và đang sử dụng như sức mạnh mới hình thành một cách mạnh mẽ để định hình trật tự thế giới nhằm phục vụ hiệu quả hơn cho các mục tiêu quốc gia.

Các quốc gia này thuộc 4 nhóm có các đặc điểm, cụ thể:

1. Các quốc gia có lợi thế cạnh tranh trong khía cạnh quan trọng của chuỗi cung ứng toàn cầu.

Các quốc gia có thể chỉ huy kiểm soát các thành phần quan trọng của chuỗi cung ứng thế giới có lợi thế kinh tế đáng kể. Ví dụ, thị trường tiêu dùng và lao động rộng lớn của Ấn Độ, lợi thế về dược phẩm, kết nối kỹ thuật số và các ưu đãi liên quan đến sản xuất như “Sản xuất tại Ấn Độ” giúp Ấn Độ trở thành trung tâm sản xuất toàn cầu tiếp theo. New Delhi cũng đang hợp tác với các đối tác như Úc để tăng khả năng phục hồi chuỗi cung ứng, nhằm đối phó với các mối đe dọa kinh tế từ Trung Quốc. Các quốc gia nhỏ có ngành công nghiệp bán dẫn tiên tiến, chẳng hạn như Đài Loan, là nhà sản xuất chất bán dẫn tiên tiến nhất thế giới; và Hà Lan với các công ty như ASML, cũng có tầm ảnh hưởng lớn.

Lợi thế của chuỗi cung ứng không chỉ là về sản xuất. Brazil, nền kinh tế lớn nhất Mỹ Latinh, dẫn đầu về hàng hóa nông nghiệp và đang phát triển lĩnh vực dịch vụ. Ngành dệt may của Bangladesh cung cấp nhiên liệu cho phần lớn ngành công nghiệp thời trang nhanh của thế giới. Ma-rốc có 70% trữ lượng phốt phát của thế giới và là cầu nối quan trọng giữa thế giới Ả Rập và châu Phi.

Khi Mỹ và các đồng minh và đối tác đặt mục tiêu phá vỡ sự thống trị của Trung Quốc đối với các chuỗi cung ứng quan trọng, bao gồm cả loại đất hiếm thì các quốc gia như Úc, Canada, Thụy Điển và Nhật Bản sẽ trở nên quan trọng hơn. Indonesia, với tư cách là thành viên của G-20, sẽ được hưởng lợi từ việc trở thành quốc gia chiếm 22% trữ lượng niken của thế giới, và trở thành một trung tâm khoáng sản quan trọng cần thiết cho việc sản xuất xe điện. Chile cũng vậy, nơi có 26% trữ lượng lithium của thế giới.

Sự hiện diện của các nguồn tài nguyên thiên nhiên quan trọng thường là cần thiết, nhưng có thể không đủ để biến một quốc gia thành một quốc gia có sức ảnh hưởng địa chính trị. Cộng hòa Dân chủ Congo (DRC) có trữ lượng coban lớn nhất thế giới, một thành phần quan trọng của mọi thứ, từ xe điện đến pin. Tuy nhiên, do các cuộc xung đột, khủng hoảng nhân đạo và lạm dụng, cũng như hồ sơ tham nhũng lâu đời, DRC có rất ít hy vọng đạt được tiềm năng đầy đủ trên sân chơi địa chính trị trong trung hạn. Trong khi đó, các công ty Trung Quốc đã định vị mình sẽ được hưởng lợi khi họ khai thác nguồn dự trữ coban hiệu quả của đất nước.

Tuy nhiên, khi các quốc gia có vị trí tốt để tận dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên của mình, họ có thể đạt được tầm quan trọng địa chính trị mới. Chưa có tổng thống Mỹ nào từng đến Guyana. Nhưng quốc gia Nam Mỹ nhỏ bé gần đây đã tìm thấy trữ lượng dầu mỏ có thể phục hồi thương mại lên tới 11 tỷ thùng , định vị quốc gia này như một bên tham gia toàn cầu trong thị trường năng lượng, nâng cao mức sống của người dân Guyan và mang đến tiềm năng trong tương lai để một ngày nào đó trở thành quốc gia mới có sức ảnh hưởng địa chính trị vào thời điểm quan trọng.

Mùa thu năm ngoái, chính quyền Biden miễn cưỡng quay sang Venezuela để tìm kiếm các nguồn năng lượng mới nhưng với các chính sách dài hạn đúng đắn, nhưng chính Guyana có thể thay đổi chính trị về năng lượng ở khu vực Mỹ Latinh và cung cấp cho Mỹ như một giải pháp thay thế mới và được ưu tiên hơn. Guyana có thể thu hút nguồn đầu tư cần thiết để trở thành một bên tham gia trong thị trường năng lượng toàn cầu, nếu nó có thể thực hiện minh bạch khuôn khổ chính sách hợp lý về cách chi tiêu doanh thu.

2. Các quốc gia có khả năng độc nhất vô nhị trong việc khiến mình trở nên hấp dẫn đối với các hoạt động “nearshoring, offshoring, or friendshoring”

Các quốc gia có sức ảnh hưởng địa chính trị được hưởng lợi từ các mối quan hệ và vị thế của mình để tận dụng các xu hướng hiện tại đối với dịch vụ “nearshoring, offshoring, or friendshoring”, khi chuỗi cung ứng toàn cầu chuyển sang một nền tảng địa chính trị ổn định hơn.

Ở Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương, Việt Nam—năm ngoái đã thay thế Vương quốc Anh với tư cách là đối tác thương mại lớn thứ bảy của Mỹ—sẽ được hưởng lợi, đặc biệt nếu nước này có thể đào tạo một thế hệ kỹ sư và lãnh đạo doanh nghiệp chuyên nghiệp mới, những người có thể tối ưu hóa nguồn cung lao động dồi dào và biến nước này trở thành một lựa chọn thay thế hấp dẫn hơn cho ngành vận tải và sản xuất.

Ở Tây bán cầu, việc nhấn mạnh vào chiến lược “friendshoring and nearshoring” sẽ mang lại lợi ích cho Mexico, Canada và một số quốc gia Mỹ Latinh, những quốc gia có thể cung cấp các trung tâm sản xuất thay thế với chi phí lao động thấp hơn và chi phí vận chuyển thấp hơn tới các thị trường ở Mỹ. “Nearshoring” có thể biến chính sách “Made in America” thành chính sách “Made in the Americas” và các sáng kiến ​​công nghiệp như Đạo luật giảm lạm phát có thể chuyển chuỗi cung ứng đất hiếm từ “offshoring sang friendshoring” bằng cách cung cấp cho các công ty khai thác ở các quốc gia có hiệp định thương mại tự do với Mỹ, như USMCA, có thể giảm 10% chi phí sản xuất.

3. Các quốc gia có nguồn vốn thiếu cân đối và sẵn sàng dịch chuyển trên khắp thế giới để theo đuổi các mục tiêu chiến lược.

Giá năng lượng cao trong những năm gần đây đã mang lại cho các quốc gia thuộc Hội đồng Hợp tác vùng Vịnh (GCC) những cơ hội đáng kể và tổng tài sản của GCC dự kiến ​​sẽ tăng từ 2,7 nghìn tỷ USD lên 3,5 nghìn tỷ USD vào năm 2026.

Các quốc gia này đã nổi lên từ kỷ nguyên ở Trung Đông bị thống trị bởi Cuộc chiến chống khủng bố toàn cầu với quyền lực lâu đời thông qua OPEC+ vẫn còn nguyên vẹn. Trong nhiều thập kỷ, các quốc gia này đã phải vật lộn với thực tế là địa chính trị thúc đẩy lợi ích kinh tế; bây giờ nhiều người đang đặt kinh tế học là trọng tâm cho việc cân nhắc về địa chính trị.

Trong khi Trung Đông vẫn là một khu vực lân cận đầy thách thức, các quốc gia GCC  một lần nữa được thế giới biết đến với tư cách là những đối tác hữu ích, chứ không chỉ là nơi khai thác tài nguyên hoặc nguồn vốn.

Một phần trong chiến lược của các quốc gia là hướng đến những phát triển quan trọng tại quê nhà -các dự án khổng lồ như Neom ở Ả Rập Xê Út, World Cup ở Qatar và tạo ra một trung tâm đầu não kinh doanh ở UAE - đang cho phép họ tạo sự khác biệt và thu hút nguồn đầu tư cũng như thu hút nhân tài. Phần thứ hai trong chiến lược là triển khai vốn ra nước ngoài theo cách đa dạng hóa các quốc gia đầu tư và điều chỉnh theo chuyên môn của họ. Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất, Qatar, Ả Rập Saudi và Kuwait đều đang tích cực đầu tư vào vô số địa điểm từ khu vực Mỹ Latinh đến Đông Nam Á, Ấn Độ và Châu Phi.

Một quốc gia khác được hưởng lợi từ giá năng lượng tăng cao là Na Uy, quốc gia có 5,4 triệu dân với quỹ đầu tư quốc gia nắm giữ hơn 1,4 nghìn tỷ USD. Trong lịch sử, Na Uy là một quốc gia trung lập, một thành viên của NATO, nhưng không phải là thành viên Liên minh châu Âu. Na Uy có cơ hội thúc đẩy một chương trình nghị sự kinh tế mà tương đối ít lo lắng về những vướng mắc địa chính trị.

Ưu tiên cuộc chiến chống biến đổi khí hậu, mọi công ty trong danh mục đầu tư của Na Uy đều đạt mức phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050. Trong khi đó, Na Uy sẽ còn có ảnh hưởng lớn hơn nữa vì vùng Biển Bắc – giáp Na Uy vốn còn có tiềm năng như là một trung tâm sản xuất điện gió. Tương tự như vậy, Singapore, một trung tâm tài chính toàn cầu và là quốc gia hưởng lợi to lớn trong thời đại siêu toàn cầu hóa, đang định vị bằng cách kết hợp kế hoạch xã hội và đầu tư hiệu quả cao vào nguồn nhân lực với khối tài sản khổng lồ được tạo ra ở châu Á trong những thập kỷ gần đây.

4. Các quốc gia có nền kinh tế phát triển và những nhà lãnh đạo có tầm nhìn toàn cầu mà họ theo đuổi trong những giới hạn nhất định.

Loại quốc gia tầm ảnh hưởng địa chính trị thứ tư bao gồm các nền kinh tế phát triển có các nhà lãnh đạo có tầm nhìn toàn cầu và đang thiết lập những lập trường của riêng họ về các vấn đề địa chính trị đang gây tranh cãi. Đức, một đồng minh NATO và là trụ cột của trật tự quốc tế dựa trên luật lệ, đã loại bỏ dần sự phụ thuộc vào năng lượng nhập khẩu của Nga và đang cung cấp viện trợ cho Ukraine - một bước ngoặt lịch sử trong chính sách đối ngoại thời hậu Chiến tranh Lạnh của nước này.

Nhưng nó cũng đang theo đuổi một hình thức đa liên kết, coi việc cam kết với Trung Quốc là ưu tiên hàng đầu theo cách có thể trở thành hình mẫu cho các thành viên khác của Liên minh Châu Âu. Chuyến thăm ngắn ngủi vào tháng 10 của Thủ tướng Đức -Olaf Scholz tới Bắc Kinh là chuyến thăm đầu tiên của một nhà lãnh đạo G7 kể từ khi đại dịch Covid-19 bùng phát. Tổng thống Macron ủng hộ “quyền tự chủ chiến lược” và Pháp quan tâm đến người tiêu dùng và thị trường sản xuất Trung Quốc. Pháp đã không giấu giếm mong muốn vạch ra một con đường trung dung về công nghệ và nhiều lĩnh vực khác.

Đối với Đông Á thì mô hình tương đối khác. Tổng thống Hàn Quốc- Yoon Suk Yeol đã tuyên bố Hàn Quốc là một “quốc gia then chốt” toàn cầu, theo tác giả Paul Kennedy và các đồng tác giả của ông, mô tả “các quốc gia then chốt” là “điểm nóng có thể quyết định không chỉ số phận của các khu vực có sự tham gia của họ mà còn ảnh hưởng đến sự ổn định quốc tế”. Việc Tổng thống Yoon củng cố mối quan hệ với Nhật Bản của Thủ tướng Fumio Kishida—nước đang tăng gấp đôi chi tiêu quốc phòng tính theo phần trăm GDP - là một sự sắp xếp lại lịch sử có thể gây bất mãn cho Yoon ở trong nước, nhưng cũng làm giảm bớt những gì đã từng là gánh nặng gây xao nhãng chính trị và kinh tế cho cả Seoul và Tokyo.

Có sự đang xen tích cực giữa các loại hình có thể gây ảnh hưởng về địa chính trị. Ví dụ, Ả-rập Xê-út có vị trí địa lý chiến lược, trữ lượng dầu mỏ và nguồn vốn đáng kể để triển khai trên toàn cầu. Đây cũng là lý do khiến Trung Quốc mất nhiều thời gian để làm trung gian cho việc khởi động lại quan hệ ngoại giao giữa Ả Rập Xê Út và Iran. Bắc Kinh nhận ra rằng quốc gia có ảnh hưởng như Ả-rập Xê-út thậm chí sẽ có nhiều quan hệ tương quan về mặt địa chính trị đối với các tham vọng của chính Trung Quốc trong tương lai. Thông qua Ả-rập Xê-út, chúng ta có thể nhận thấy mỗi quốc gia có phạm vị ảnh hưởng địa chính trị đều có những lợi thế so sánh riêng và thời điểm địa chính trị hiện tại của toàn cầu đang thúc đẩy các quốc gia sử dụng những lợi thế này hơn bao giờ hết. Điều đó có sự phân nhánh không chỉ đối với cách các quốc gia có hành động riêng lẻ mà còn đối với phương thức mà các quốc gia có hành động phối hợp với nhau.

Nguồn: Goldman Sachs

Từ khóa: Ảnh hưởng địa chính trị, Mỹ- Trung, Nga - Ukraine

Chuyên mục RCEP

JSN_TPLFW_TOGGLE_MENU

Phân tích - Bình luận

JSN_TPLFW_TOGGLE_MENU

Thư viện hội nhập

thu vien


phong ve thuong mai

Video

Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field

Liên kết

 

Lượt truy cập

008804517
Go to top