JSN_TPLFW_TOGGLE_MENU
Phân tích - Bình luậnHội nhập kinh tế quốc tếBài học từ việc Trung Quốc trừng phạt hàng nhập khẩu của Úc

Bài học từ việc Trung Quốc trừng phạt hàng nhập khẩu của Úc

lessons

Từ tháng 5 năm 2020, Bắc Kinh đã đưa ra lệnh cấm nhập khẩu khoảng chục mặt hàng của Úc mà Trung Quốc là thị trường chính, cắt giảm nhập khẩu trị giá khoảng 20 tỷ đô la Úc (tương đương 13,4 tỷ đô la Mỹ) mỗi năm. Nguyên nhân trực tiếp là do mối quan hệ chính trị xấu đi giữa Canberra và Bắc Kinh, nhưng một thỏa thuận thương mại giữa Bắc Kinh và Washington liên quan đến việc Trung Quốc tăng nhập khẩu nông sản và các hàng hóa khác của Mỹ cũng là một yếu tố tác động.

Sự gián đoạn thương mại này có tác động quá lớn và đe dọa tớian ninh kinh tế. Nếu rút lui khỏi nền kinh tế này có thể khiến quốc gia nghèo hơn và kém an toàn hơn nhiều.

Xuất khẩu của Úc sang Trung Quốc vẫn ổn định vào năm 2020 và tăng 14% vào năm 2021 và 6% vào năm 2022, trong khi nền kinh tế toàn cầu bị ảnh hưởng bởi các đợt phong tỏa do COVID-19 và suy thoái kinh tế. Nhờ việc Trung Quốc tạo điều kiện dễ dàng cho xuất khẩu quặng sắt của Úc, và sự tăng trưởng nhanh chóng của các mặt hàng khác như xuất khẩu lithium, do đó Trung Quốc chiếm hơn 40% xuất khẩu hàng hóa của Úc trong thời gian đó và giúp Úc vượt qua những ảnh hưởng kinh tế của đại dịch COVID-19.

Úc không lạ gì khi có một quốc gia thống trị thị phần thương mại quốc tế. Trong quá khứ, Nhật Bản, Mỹvà Anh đã chiếm khoảng nhiều trong thương mại quốc tế như Trung Quốc ngày nay. Dấu hiệu thành công của Úc trong việc sử dụng các nguồn lực kinh tế của mình và tận dụng các cơ hội quốc tế. Úc đã thiết lập các thể chế và thiết lập chính sách kinh tế để quản lý các mối quan hệ kinh tế phụ thuộc lẫn nhau cao này và đối phó thành công với những cú sốc không thường xuyên.

Các biện pháp trừng phạt thương mại của Trung Quốc khiến các nhà xuất khẩu Úc - đặc biệt là rượu vang và tôm hùm - thiệt hại nặng nề. Nhưng hầu hết các nhà xuất khẩu nhanh chóng tìm thấy các thị trường khác khi nhập khẩu lúa mạch, than đá và các hàng hóa khác của Trung Quốc không chậm lại mà còn mở ra nhu cầu khác. Nhờ thị trường linh hoạt nhưng nguồn phục hồi quan trọng nhất chính là hệ thống thương mại đa phương mở đảm bảo các giao dịch vẫn thực hiện. Các thị trường cạnh tranh lấn át các tác động của thương mại vũ khí hóa.

Các nhà xuất khẩu Úc tìm thấy các thị trường khác chủ yếu nhờ hệ thống thương mại đa phương mở. Cả các nhà xuất khẩu và chính phủ Úc đều không biết chính xác những thị trường đó ở đâu. Việc chuyển hướng thương mại được dẫn dắt bởi các cơ hội thị trường. Trung tâm của hệ thống đó là WTO, mặc dù có những hạn chế, nhưng vẫn kết hợp hệ thống thương mại với một loạt các hiệp định thương mại tự do WTO cộng được xây dựng xung quanh nó.

Hai mươi quốc gia thành viên WTO, bao gồm cả Trung Quốc và Úc, đã ký vào Cơ chế trọng tài phúc thẩm tạm thời nhiều bên (MPIA) để các quy tắc của WTO có hiệu lực thi hành ngay cả khi Mỹnắm giữ hệ thống bằng quyền phủ quyết đối với việc bổ nhiệm các thẩm phán trọng tài. Úc có các vụ kiện chống lại Trung Quốc tại WTO sẽ được thi hành thông qua cam kết của Trung Quốc đối với MPIA. Nhật Bản cũng đã tham gia, một sự phát triển lớn báo hiệu cam kết của Nhật Bản đi đầu trong các quy tắc kinh tế quốc tế.

Là nhà giao dịch lớn nhất thế giới, Trung Quốc có cổ phần rất lớn trong hệ thống thương mại đa phương hiện có. Việc Trung Quốc không tuân thủ tinh thần của các quy tắc thương mại đa phương, như của Mỹ và Châu Âu, và việc nước này bày ra các“trò chơi” trong hệ thống không phải vì muốn rút khỏi tổ chức WTO. Những nỗ lực mang tính cưỡng chế kinh tế của Trung Quốc hầu như đã thất bại hoàn toàn và trong mọi trường hợp, các hành động của họ đều phản tác dụng về mặt kinh tế hoặc chính trị.

Có thể tìm cách giảm thiểu và khuếch tán rủi ro thương mại bằng cách tăng cường sự tham gia và củng cố các quy tắc, thay vì né tránh. Cam kết kinh tế giúp xây dựng sự giàu có và quyền lực quốc gia — và khi được kết hợp với các quy tắc đa phương, sẽ mở rộng phạm vi lựa chọn chính sách chiến lược dành cho các nhà hoạch định chính sách quốc gia.

Một Trung Quốc ít hội nhập hơn vào nền kinh tế toàn cầu sẽ có ít ràng buộc chính trị hơn và do đó taọ ra nhiều rủi ro về an ninh quốc gia hơn.

Chiến lược sử dụng nguồn cung cấp khí đốt của Nga đối với châu Âu đôi khi được trích dẫn như một điểm đối lập với lập luận về sự phụ thuộc lẫn nhau. Nhưng Nga không được tích hợp vào chuỗi cung ứng châu Âu và sự phụ thuộc năng lượng của châu Âu vào Nga khác về bảnchất với sự phụ thuộc lẫn nhau về kinh tế ở Đông Á. Sự phụ thuộc lẫn nhau được củng cố bởi chủ nghĩa đa phương giúp giảm thiểu rủi ro một cách hiệu quả.

Sức mạnh của chủ nghĩa đa phương được hiểu rõ hơn và nó được thực hiện một cách rõ ràng hơn trong khối ASEAN. Hợp tác với ASEAN tạo cơ hội để giữ cho khu vực tự do và cởi mở bằng cách để xây dựng an ninh kinh tế thông qua tăng cường hợp tác kinh tế trong RCEP, bao gồm cả với Trung Quốc.

Các cường quốc vừa và nhỏ được bảo vệ bởi các quy tắc và thị trường quốc tế. Các thị trường mởcó tính cạnh tranh hạn chế hơn so với các cường quốc, tuân theo các quy tắc đã được thiết lập và quy trình phát triển mà không có sự phân chia về kinh tế. Bài học chính về kinh nghiệm xuất khẩu năm 2020 của Úc là vũ khí kinh tế của Trung Quốc đã bị hệ thống thương mại đa phương làm mất tác dụng. Ngay cả khi các cường quốc đi chệch khỏi các quy tắc, việc bảo vệ và mở rộng hệ thống đa phương vẫn là ưu tiên hàng đầu của các quốc gia còn lại trên thế giới — chứ không đi theo con đường tự hủy hoại đó.

Lợi ích chiến lược vẫn là khóa Trung Quốc vào các quy tắc, chuẩn mực và thị trường. Úc và Nhật Bản nên xem xét đơn xin gia nhập Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) của Trung Quốc, hay TPP–11, để đàm phán nghiêm túc và xác định các mốc quan trọng trong cải cách của Trung Quốc cần thiết để đạt được tư cách thành viên. Tư cách thành viên CPTPP có thể được mở rộng mà không làm xói mòn các quy tắc hoặc tiêu chuẩn.

Thực tế là Mỹđã bỏ trống vai trò lãnh đạo thương mại toàn cầu và trở thành nguồn gốc của sự không chắc chắn khi nước này đối phó với những thách thức trong nước. Những bình luận của Đại diện Thương mại Mỹ - Katherine Tai chê bai phán quyết bất lợi của WTO về thuế thép và nhôm vào tháng 12 năm 2022 khiến việc vận động cho một trật tự quốc tế dựa trên luật lệ trở nên khó khăn hơn nhiều.

Các quốc gia còn lại của thế giới cần trật tự quốc tế dựa trên luật lệ để đảm bảo an ninh kinh tế. Sự lãnh đạo của Nhật Bản là rất quan trọng đối với việc ký kết CPTPP. Tình hình kinh tế toàn cầu đã xấu đi kể từ đó, khiến thách thức trở nên khó khăn hơn nhiều. Úc và Nhật Bản đang tích cực định hình Khuôn khổ kinh tế Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương để giữ Mỹở lại châu Á, và mục tiêu chung vẫn là đưa Mỹ trở lại CPTPP. Những nỗ lực này không nên đánh đổi mục tiêu chính là duy trì và củng cố hệ thống thương mại đa phương, đặc biệt là WTO.

Shiro Armstrong là Phó Giáo sư và Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Úc-Nhật Bản và Cục Nghiên cứu Kinh tế Đông Á tại Trường Chính sách Công Crawford thuộc Đại học Quốc gia Úc. Báo cáo đầy đủ lần đầu tiên được xuất bản tại Viện Nghiên cứu Kinh tế, Thương mại và Công nghiệp Úc.

Nguồn: East Asia Forum

Từ khóa: Trung Quốc; Úc; Mỹ; lệnh trừng phạt; thương mại; WTO.

Chuyên mục RCEP

JSN_TPLFW_TOGGLE_MENU

Phân tích - Bình luận

JSN_TPLFW_TOGGLE_MENU

Thư viện hội nhập

thu vien


phong ve thuong mai

Video

Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field

Liên kết

 

Lượt truy cập

008804602
Go to top