JSN_TPLFW_TOGGLE_MENU
Phân tích - Bình luậnHội nhập kinh tế quốc tếSự thật về các Hiệp định thương mại tự do (FTA)

Sự thật về các Hiệp định thương mại tự do (FTA)

Phần lớn thương mại thế giới diễn ra thông qua các hiệp định thương mại tự do (FTA) và các FTA giúp thúc đẩy xuất khẩu là một trong những quan điểm sai lầm cần phải được loại bỏ.

ftas

Cơ sở dữ liệu của WTO cho biết trên thế giới có hơn 355 FTA đang có hiệu lực. Con số lớn như vậy một phần là do niềm tin rằng các FTA là các thỏa thuận đôi bên cùng có lợi và một quốc gia phải thực hiện chúng để tăng cường thương mại hoặc trở thành một phần của chuỗi giá trị toàn cầu (GVC).

Viện Nghiên cứu Thương mại Quốc tế (GTRI), một tổ chức tư vấn về thương mại mới phát hiện ra rằng hầu hết những quan điểm như vậy là không có căn cứ. Dưới đây là những phát hiện mới của GTRI về tám quan điểm sai lầm phổ biến xung quanh các FTA và bức tranh thực tế về FTA.

Thứ nhất, hầu hết thương mại thế giới diễn ra thông qua các FTA. Điều này không đúng. Các ước tính cho thấy chỉ 15-17% thương mại thế giới diễn ra thông qua ưu đãi từ các FTA. Tại sao các chuyên gia đánh giá quá cao thương mại diễn ra thông qua các FTA? Chúng tính tổng thương mại giữa hai đối tác FTA, mặc dù hầu hết thương mại song phương có thể diễn ra với mức thuế MFN bằng không.

MFN hay “Tối huệ quốc” là một thuật ngữ của WTO chỉ ra rằng một quốc gia phải bảo đảm dành cho tất cả các quốc gia đối tác một chế độ ưu đãi thương mại thuận lợi như nhau. Ví dụ, trong số 12 tỷ USD xuất khẩu của Ấn Độ sang Singapore, chỉ có 6% là ưu đãi. 70% hàng xuất khẩu của Ấn Độ sang ASEAN được áp dụng mức thuế MFN bằng 0. Nhưng hầu hết các nhà kinh tế chọn cách quên đi điều này.

Thứ hai, FTA là các khối xây dựng của WTO. Không đúng. Các nước phát triển hiện đang sử dụng các FTA để yêu cầu các nước đang phát triển thực hiện các nghĩa vụ bổ sung của WTO đối với các vấn đề mới bao gồm sở hữu trí tuệ, môi trường, giới tính, lao động và bền vững. Các nghĩa vụ bổ sung sẽ là WTO cộng, khiến WTO yếu đi và không còn phù hợp. Những điều khoản này sẽ đóng vai trò là hàng rào phi thuế quan ngăn cản xuất khẩu của các nước đang phát triển.

Thứ ba, các nước đang gấp rút ký kết FTA. Điều này không đúng. Các FTA chủ yếu được các nền kinh tế Đông Á hoặc các quốc gia đã hạ mức thuế MFN gần bằng 0 đón nhận một cách nhiệt tình. Các quốc gia/khu vực có nền công nghiệp lớn ký kết FTA một cách có chọn lọc.

Ví dụ, Mỹ không có FTA với các nền kinh tế lớn như EU, Trung Quốc, Nhật Bản, ASEAN hay Ấn Độ. Hầu hết các FTA của EU là với các nhà cung cấp nguyên liệu thô và các nước nhỏ. EU không có FTA với Mỹ, ASEAN (trừ Việt Nam), Nga hoặc Trung Quốc (ngoại trừ FTA về đầu tư).

Thứ tư, các FTA thúc đẩy xuất khẩu. Điều này không đúng với Ấn Độ. Cơ hội tăng xuất khẩu do ký kết các FTA là thấp nếu thuế nhập khẩu ở nước đối tác thấp. Các FTA với Malaysia, Nhật Bản, Úc, New Zealand, Brunei, …chỉ mang lại lợi ích cho một số nhóm sản phẩm vì hầu hết hàng háo nhập khẩu vào các nước này đều được hưởng mức thuế MFN bằng 0 đối với tất cả các nước.

Sản xuất trong nước

Thứ năm, FTA thúc đẩy sản xuất trong nước. Việc nhập khẩu hàng hóa miễn thuế thông qua lộ trình FTA có thể làm sản xuất trong nước gián đoạn. Mỹ, trong Khuôn khổ kinh tế Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương (IPEF) đang được đàm phán với Ấn Độ và các nước khác, không bao gồm việc loại bỏ thuế quan để bảo vệ ngành công nghiệp của mình.

Thứ sáu, FTA tăng cường tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu (GVC). Không có bằng chứng thuyết phục cho quan điểm này. Các mức thuế MFN bằng 0 tạo điều kiện tốt nhất cho việc lưu thông hàng hóa tự do giữa các quốc gia. Thuế phải đáp ứng các quy tắc xuất xứ phức tạp và là lựa chọn tốt thứ hai.

Hiệp định Công nghệ thông tin của WTO (ITA), được ký vào năm 1996, không có thuế MFN và không có quy tắc hoặc yêu cầu xuất xứ, đã đóng góp nhiều hơn bất kỳ FTA nào cho việc phát triển thương mại GVC đối với các sản phẩm điện tử và máy tính.

Khu vực Trung Quốc-ASEAN-Nhật Bản-Hàn Quốc đã phát triển một GVC tích hợp chủ yếu sau khi thực hiện hiệp định ITA và trước khi các FTA được ký kết. Các FTA chỉ cung cấp các điều khoản bổ sung.

Nhìn chung, lý do quan trọng cho sự tăng trưởng của GVC là các quốc gia không áp dụng thuế MFN đối với các lĩnh vực thiết yếu. Nhưng hầu hết các nhà kinh tế đều bỏ qua thực tế này và liên kết sự gia tăng thương mại với việc ký kết các FTA trong khu vực.

ASEAN, Nhật Bản và Hàn Quốc tạo thành cốt lõi của chuỗi giá trị khu vực châu Á. Bất chấp các FTA với các quốc gia này, Ấn Độ hiện diện yếu trong chuỗi giá trị điện tử, máy móc hoặc may mặc.

Thứ bảy, các FTA thúc đẩy đầu tư. Có nhiều bằng chứng cho điều này. Các ví dụ về ngành công nghiệp ô tô ở Úc và Ấn Độ là một điển hình.

Úc, vào năm 1987, đã sản xuất 89% số ô tô mà nước này sử dụng. Họ bảo vệ ngành công nghiệp xe hơi của quốc gia họ bằng việc áp dụng mức thuế nhập khẩu cao - 45%.

Nhưng tỷ lệ xe sản xuất trong nước giảm khi Úc giảm thuế dần dần. Ngày nay, Úc nhập khẩu gần như tất cả ô tô khi thuế quan đạt mức 5%. Hầu hết các nhà sản xuất, chẳng hạn như Nissan, Ford, General Motors, Toyota, Mitsubishi, ... sản xuất xe ở Úc đều đóng cửa. Ngành công nghiệp ô tô Úc đã bị xóa sổ do mức thuế nhập khẩu bảo vệ không đầy đủ.

Mặt khác, Ấn Độ có thể thu hút đầu tư đáng kể vào lĩnh vực ô tô do thuế nhập khẩu cao (60-125%). Điều này dẫn đến sự phát triển của ngành công nghiệp ô tô và linh kiện ô tô bản địa. Ngày nay, lĩnh vực ô tô chiếm một phần ba GDP sản xuất của Ấn Độ.

Nếu một quốc gia không phải là nền kinh tế hiệu quả nhất, một số bức tường thuế nhập khẩu sẽ giúp thu hút đầu tư bên ngoài. Nếu không có bức tường thuế nhập khẩu, nhiều doanh nghiệp có thể chuyển sản xuất sang các nước đối tác FTA hiệu quả hơn để xuất khẩu trở lại thị trường nội địa.

Chất lượng của các khoản đầu tư tăng lên khi một quốc gia tiến tới trở thành một nền kinh tế hiệu quả hơn. Những quốc gia như vậy đang ở một vị trí lý tưởng để trở thành trung tâm sản xuất và dịch vụ.

Giảm chi phí?

Sau cùng, các FTA giúp giảm chi phí. Rất ít khi. Cần thêm bằng chứng để chứng minh cho quan điểm này. Tác động có thể nhìn thấy ngay lập tức của một FTA là việc chuyển tiền (nếu không tính là thuế nhập khẩu) từ hải quan của nước nhập khẩu (Ấn Độ) sang các nhà xuất khẩu của nước đối tác, người tiêu dùng Ấn Độ không được lợi gì.

Trong các sản phẩm mà hàng hóa nhập khẩu phải đối mặt với sự cạnh tranh từ các doanh nghiệp trong nước, quốc gia cung cấp FTA có thể đưa ra các điều khoản tốt hơn cho nhà nhập khẩu hoặc giảm giá vừa đủ để chiếm ưu thế trên thị trường. Lợi nhuận đầy đủ phát sinh từ việc loại bỏ thuế không được chuyển cho người tiêu dùng.

Quan niệm sai lầm thường cần nhiều thời gian để nhìn nhận ra. Tuy nhiên, các FTA đã phát triển trong vòng chưa đầy hai thập kỷ. Cảm ơn các chuyên gia đã lan truyền những điều này mà không cần dữ liệu chứng minh. Các quốc gia phải tiến hành thẩm định dựa trên nhu cầu kinh tế của mình và không mù quáng làm theo lời khuyên do ý thức hệ thúc đẩy.

Từ khóa: FTA; sự thật; quan điểm; sai lầm; WTO.

Nguồn: The Hindu Business Line

Chuyên mục RCEP

JSN_TPLFW_TOGGLE_MENU

Phân tích - Bình luận

JSN_TPLFW_TOGGLE_MENU

Thư viện hội nhập

thu vien


phong ve thuong mai

Video

Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field

Liên kết

 

Lượt truy cập

008804033
Go to top