JSN_TPLFW_TOGGLE_MENU
Phân tích - Bình luậnHội nhập kinh tế quốc tếCác rào cản khí hậu ảnh hưởng thương mại toàn cầu

Các rào cản khí hậu ảnh hưởng thương mại toàn cầu

Hạn chế thương mại vì mục đích chống biến đổi khí hậu có nguy cơ gây tác dụng ngược chiều.

oilrig 768x431

Tại Hội nghị Biến đổi Khí hậu Liên hợp quốc năm nay, khoảng 10,000 nhà hoạch định chính sách đã gặp mặt để tiếp tục xây dựng mạng lưới điều chỉnh khí hậu toàn cầu. Với 20,000 người tham dự với tư cách quan sát viên, phần lớn đến từ các tổ chức phi chính phủ. Thương mại toàn cầu đang trở thành tâm điểm cần điều chỉnh của các nước.

Công ước khung Liên hợp quốc về Biến đổi Khí hậu (UNFCCC) là một thỏa thuận giữa 198 quốc gia ký kết. Một số điều khoản UNFCCC có phạm vi xác định rõ ràng. Ví dụ điển hình là Nghị định thư Kyoto nhằm hạn chế phát thải nhà kính ở các nền kinh phát triển. Những điều khoản khác có phạm vi rộng hơn như Hiệp định Paris về biến đổi khí hậu. Thỏa thuận này nhằm kết nối hành động toàn cầu về chống biến đổi khí hậu. Mặc dù đối tượng nhắm đến chủ yếu là các chính phủ quốc gia, hiệp định cũng đề cập đến các bên quốc tế và tổ chức phi chính phủ.

Theo nguyên tắc, Hiệp định Paris không giải quyết vấn đề thương mại một cách cụ thể. Nhưng càng về sau, hoạt động giao thương hàng hóa và dịch vụ trở thành một mục tiêu thảo luận của hiệp định.

Ví dụ, UNFCCC đã tạo điều kiện thuận lợi cho các cuộc thảo luận về những ảnh hưởng môi trường của thương mại toàn cầu. Ngoài ra, ban thư ký của UNFCCC thường xuyên đề cập đến chủ đề này với các cơ quan Liên hợp Quốc, như UNIDO (phát triển công nghiệp), UNCTAD (thương mại và phát triển) hoặc Ủy ban Kinh tế Liên hợp Quốc. Đặc biệt, Ủy ban Liên chính phủ về Biến đổi khí hậu (IPCC) đã đưa thương mại vào chương trình nghị sự của mình. Mặc dù nhiệm vụ của IPCC là thực hiện nghiên cứu, báo cáo của IPCC vẫn có những kết quả chính trị và quy định của nó.

Khí thải nhập khẩu

Theo UNFCCC, cho đến nay, mức phát thải nhà kính được đo lường tại nơi chúng được sản xuất. Nếu một nhà sản xuất ô tô thải ra 5 tấn CO2 ở Brazil, số liệu này sẽ được cộng thêm vào số hàng tồn kho của Brazil.

Cách khác để đo lường khí thải nhà kính là thông qua tiêu thụ - theo dõi hàng hóa và dịch vụ đến tay người sử dụng cuối cùng. Dựa theo phương pháp này, nếu một người sản xuất ô tô ở Brazil bán ô tô có lượng phát thải ra môi trường là 3 tấn CO2 ở Brazil và 2 tấn ở Argentina, 3 tấn sẽ được cộng vào hàng tồn kho của Brazil và hai tấn của Argentina.

Phương pháp thứ hai chưa được UNFCCC áp dụng, nhưng IPCC đang nghiên cứu triển khai. Ngoài ra, Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) đã đưa phương pháp trên vào báo cáo và cơ sở dữ liệu của mình.

Cách tính mức phát thải dựa theo lượng tiêu thụ tính có nhiều ảnh hưởng hơn cách tính dựa trên mức sản xuất. Cách tính sẽ cộng thêm đáng kể lượng khí thải của các quốc gia OECD, những nước vốn đang bị thúc ép phải có hành động quyết liệt để giảm lượng khí thải nhà kính. Giảm phát thải, đến lượt nó, là một nan đề.

Nếu lượng khí thải được tính toán theo mức tiêu thụ, các nhà xuất khẩu ròng về khí thải nhà kính sẽ được phép trừ lượng khí thải từ lượng hàng tồn kho của chính họ. Với phương pháp này, các nước xuất khẩu sẽ ít bị kêu gọi phải giảm lượng khí carbon của họ. Ngoài ra, giảm thiểu phát thải ở mức sản xuất thường rẻ hơn và cải thiện quá trình cơ sở hạ tầng và kinh tế hiện có.

Hạn chế thương mại

Có thể lập luận rằng bởi vì UNFCCC và Hiệp định Paris thực hiện theo phương pháp sản xuất của tính toán mức phát thải nên không cần lo lắng về những ảnh hưởng. Thứ nhất, một số bên tham gia Hiệp định Paris đang bắt đầu đặt rào cản thương mại dựa trên nguyên tắc tiêu dùng. Thứ hai, ngay cả Tổ chức Thương mại Quốc tế (WTO) đang xem xét các hạn chế thương mại dựa trên mức tiêu thụ khí thải nhà kính.

Cơ chế điều chỉnh biên giới carbon (CBAM) là một công cụ chính sách thương mại mới nổi nhằm ngăn chặn hoạt động kinh tế sử dụng nhiều carbon được nhập khẩu từ các khu vực pháp lý có quy định chặt chẽ. Các điều chỉnh biên giới thường sẽ áp dụng phí đối với hàng hóa nhập khẩu dựa theo mức phát thải nhà kính được tạo ra trong quá trình sản xuất ở nước ngoài. Điều này cũng có thể bao gồm các khoản khấu trừ hoặc miễn trừ từ chính sách trong nước cho những nhà sản xuất xuất khẩu hàng hóa của họ.

Liên minh châu Âu hiện đang xem xét triển khai CBAM. Mối quan tâm đến các điều chỉnh biên giới, bao gồm thuế carbon, cũng đang gia tăng ở Hoa Kỳ, cả Đảng Dân chủ và Cộng hòa đều bày tỏ sự ủng hộ.

Vì CBAM là mức thuế áp dụng cho hàng hóa nhập khẩu, các phương pháp sẽ cần phải tuân thủ các quy tắc WTO. Một CBAM có thể tương thích với WTO nếu cơ chế này tránh được sự phân biệt đối với các sản phẩm nước ngoài có cùng mức khí thải carbon và áp dụng cùng một loại thuế như với tất cả sản phẩm trong nước. Từ ngữ, mục tiêu và việc áp dụng các điều chỉnh biên giới carbon nên hoàn toàn trung lập về nguồn gốc.

Bản thân WTO đang xem xét nghiêm túc nhưng bước đi như vậy. Trong bản tóm tắt về thương mại và biến đổi khí hậu, WTO bày tỏ sự vui mừng khi ngày càng có nhiều chính sách quốc gia quan tâm đến khí hậu cũng như gia tăng các điều khoản khí hậu trong các hiệp định thương mại tự do và khu vực. Mặc dù, báo cáo lưu ý cách thương mại có thể giảm nhẹ lượng phát thải nhà kính, báo cáo cũng khẳng định các rào cản thương mại liên quan đến khí hậu sẽ tương thích với các quy tắc WTO nếu một tiêu chuẩn chung trong tính toán mức phát thải được thiết lập. WTO đưa ra kế hoạch chi tiết để hạn chế thương mại một cách hiệu quả. Theo UNFCCC, việc tiêu chuẩn hóa cách tính toán khí thải đang được tiến hành tốt.

Nguồn: Gisreport

Từ khóa: cách tính toán phát thải, WTO, UNFCCC, IPCC

Chuyên mục RCEP

JSN_TPLFW_TOGGLE_MENU

Phân tích - Bình luận

JSN_TPLFW_TOGGLE_MENU

Thư viện hội nhập

thu vien


phong ve thuong mai

Video

Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field

Liên kết

 

Lượt truy cập

008803942
Go to top