
Với việc “thuế các-bon” có khả năng tác động mạnh đến chính phủ Úc, câu hỏi lớn nhất hiện tại chính là mặt hàng xuất khẩu nào có thể giúp xứ chuột túi duy trì tăng trưởng
Bộ trưởng Năng lượng và giảm thiểu phát thải Angus Taylor, trong bài viết trên tờ Australia tuần trước đã cho rằng dự thảo thuế các bon của EU đang đe dọa niềm tin về lợi ích của thương mại tự do rộng mở mà các nền dân chủ tự do đã cố công xây dựng.
Lo ngại chính của ông Taylor bắt nguồn từ đề xuất áp thuế của EU trên cơ sở Cơ chế chuyển đổi các-bon biên giới. Rõ ràng là EU nhận định rằng các nhà sản xuất của khối đang phải chịu bất lợi về mặt chi phí do quy định về chi phí các-bon nội địa.
EU đánh thuế không phải là động thái bất ngờ. Đây là một nhân tố quan trọng khiến kế hoạch của chính quyền cựu Thủ tướng Rudd áp chi phí các-bon lên sản phẩm nội địa đổ bể trước thềm sự kiện COP15. Hội nghị về khí hậu tại Copenhagen vào năm 2009 thất bại trong việc đạt được một thỏa thuận chat chẽ về giảm phát thải chính là một trong những nguyên nhân chính khiến chính phủ Rudd thất bại trước đảng đối lập.
Tuy nhiên, những mặt hàng xuất khẩu ông Taylor cho rằng sẽ chịu thuế áp từ phía EU gồm nhôm, xi măng, thép và sản phẩm nông nghiệp không phải là hàng hóa xuất khẩu chủ lực của xứ chuột túi. Bảng phân tích dưới từ Cơ quan giám sát mô hình kinh tế cung cấp một bức tranh tòan diện về giá trị thương mại từng loại mặt hàng của Úc trong năm 2019 như sau:

Nguồn tham khảo: Xuất khẩu của Úc
Có thể thấy châu Âu chỉ chiếm phần nhỏ trong thị trường xuất khẩu của quốc đảo. Hơn 50% hàng xuất khẩu của xứ chuột túi có điểm đến tại Trung Quốc và Nhật Bản.

Người đọc quan tâm có thể xem xét số liệu kỹ hơn tại trang web của tổ chức đã nêu, qua đó hiểu thêm về mô hình thương mại hiện tại của Úc. Một vài ví dụ có thể chỉ ra như 78.8% giá trị xuất khẩu từ Úc đến Anh quốc là sản phẩm vàng; 18.8% giá trị xuất khẩu đến Đức là dược phẩm, trong khi đó, 12.4% giá trị hàng xuất khẩu đến Hà Lan từ Úc chính là công cụ và thiết bị.
Tập trung vào giá trị xuất khẩu, có thể nhận định rằng Úc xuất khẩu gấp 6 lần sản phẩm than và khí đốt nước này tiêu dùng nội địa (không bao gồm việc sử dụng trong hoạt động công nghiệp nội địa) (xem phụ lục 1). Do đó, những tác động về kinh tế liên quan đến chính sách giảm phát thải của nước này đã bị thổi phồng. Định hướng chuyển đổi mô hình công nghiệp áp dụng đối với người lao động Úc không phụ thuộc vào nguồn nhiên liệu xứ chuôt túi dùng để sản xuất điên ra sao, mà phụ thuộc vào cách thức các quốc gia khác sử dụng nguồn nhiên liệu này như thế nào.
Ba thị trường xuất khẩu than lớn nhất của Úc chính là Nhật Bản, Ấn Độ và Trung Quốc (tương ứng tỷ lệ 24.6%, 23.5% và 18.2%), trong khi đó ba thị trường nhập khẩu khí lớn nhất của xứ chuột túi gồm Nhật Bản, Trung Quốc và Hàn Quốc (tương ứng mức 43%, 34.7% và 9.79%). Vậy các quốc gia đã nêu đang sử dụng loại hàng hóa nhập khẩu đã nêu như thế nào?
Chính quyền Thủ tướng Morrison không bàng quan trước việc hàng xuất khẩu chủ lực của Úc đang phụ thuộc lớn vào một vài thị trường nhưng lại từ chối thực thi yêu cầu của Ủy ban thương mại Thương viện liên quan đến quá trình đa dạng hóa hoạt động giao thương.
The IPCC’s Sixth Assessment Report unequivocal conclusion that ‘human influence has warmed the atmosphere, ocean and land, and that this change is accelerating will result in stronger and faster action by the community of nations.
Báo cáo đánh giá lần thứ 6 của IPCC đã đưa ra nhận định chắc chắn rằng “chính loài người đã tác động khiến bầu khí quyển, đại dương và mặt đất ấm lên; sự thay đổi này đang diễn tiến nghiêm trọng, do đó cộng đồng các quốc gia trên khắp thế giới cần hành động mạnh mẽ và quyết liêt hơn”.
Câu hỏi kinh tế lớn nhất đối với Úc không phải là tỷ lệ giảm phát thải cần đạt được là bao nhiêu mà chính là các sản phẩm xuất khẩu trong tương lai của nước này sẽ là gì.
Phản ứng của Thủ tướng Morrison đối với báo cáo của IPCC hầu hết có tính tiêu cực. Ngài Thủ tướng luôn nói “chúng ta phải để các quốc gia đang phát triển phấn đấu đạt được mục tiêu đã đề ra” nhưng đồng thời lại chỉ trích rằng chính những nền kinh tế đang phát triển chính là nơi chiếm đến 2/3 lượng phát thải toàn cầu. Tờ Australian đã trích dẫn lời của ông Morrison như sau:
“Giảm phát thải tại Trung Quốc, Ấn Độ và những nền kinh tế đang phát tiển khác chính là phương án khả thi nhất nhằm tránh một thảm họa về môi trường”.
Đây chính xác là những gì các quốc gia đang phát triển đã cam kết. Chủ tịch Tập Cận Bình hứa hẹn hoạt động phát thải của Trung Quốc sẽ đạt đỉnh vào năm 2030 và tiến đến không phát thải vào thời điểm 2060. Về phần mình, Ấn Độ không đưa ra bất kỳ cam kết nào về mục tiêu không phát thải vào năm 2050 nhưng đã đặt mục tiêu giảm 33% khí thải so với mức năm 2005 vào thời điểm 2030. Tháng trước, Bộ tưởng Môi trường đất nước hơn 1 tỷ dân cho biết quốc gia Nam Á đang bám sát và có khả năng vượt mục tiêu đề ra.
Tuy nhiên, liên quan đến thị trường nhập khẩu lớn nhất sản phẩm than và khí của Úc là Nhật Bản, quốc đảo phù tang không những cam kết dừng phát thải vào năm 2050 mà còn đảm bảo rằng nước này sẽ giảm 46% lượng khí thải so với thời điểm 2013 vào năm 2030.
Tác động lớn nhất đến Úc chính là dự thảo chính sách năng lượng hỗn hợp của Nhật Bản công bố vào tháng trước. Theo đó, tỷ lệ năng lượng than trong sản xuất điện của nước này giảm từ 26% xuống còn 19%, còn khí tự nhiên giảm xuống 41% từ mức 56%.
Trong bối cảnh đó, Thủ tướng Úc đương nhiệm vẫn cố bám vào luận điệu cũ về việc “không đánh thuế công nghệ” mặc dù chẳng có một chính sách cụ thể nào để phát triển công nghệ. Mặt khác chính quyền hiện tại lại thương xuyên phản đối việc thành lập Văn phòng Khoa học và Công nghệ của Nghị viện.
Rõ ràng là ngài bộ trưởng Hume không thể phân biệt nổi chức năng tư vấn của những cơ quan thuộc chính phủ và thuộc Nghị viện.
Chính phủ hiện tại mang bản chất “bảo thủ” đúng nghĩa – một thiết chế hoàn toàn không sẵn sàng cho bất kỳ cải cách có tính thực chất nào.
Khi sự thay đổi có động mạnh mẽ đến những vấn đề cơ bản như khí hậu, và ảnh hưởng lan tỏa của nó đến nền kinh tế mang tính bước ngoặt, nhiều chính sách mới cần được ban hành và triển khai.
Phụ lục 1: Tiêu thụ và xuất khẩu than, khí của Úc
Biểu đồ Sankey (từ Cơ quan Năng lượng quốc tế) cho thấy nguồn cung và hoạt động tiêu thụ năng lượng của xứ chuột túi

Sau khi sử dụng cho hoạt động sản xuất, lượng than và khí xuất khẩu của Úc cao gấp 6 lần so với lượng nhiên liệu nước này tiêu dùng nội địa.
| Nhiên liệu | Sản xuất | Xuất khẩu | Dùng trong sản xuất điện | Công nghiệp | Giao thông | Khác | Không dùng sản xuất năng lượng | Dùng trong nội địa |
| Than đá | 287.44 | 246.81 | 37.59 | 3.07 | 0 | 0.01 | 0.86 | |
| Khí | 101.2 | 72.65 | 12.3 | 6.16 | 0.41 | 4.89 | 1.34 | 7.81 |
| Tỷ lệ sử dụng (không bao gồm tiêu dùng nội đia) | ||||||||
| Than đá | 86.12% | 13.12% | 1.07% | 0.00% | 0.00% | 0.00% | 6.6 | |
| Khí | 77.79% | 13.17% | 6.60% | 0.44% | 5.24% | 1.43% | 5.9 | |
Phụ lục 2: Hoạt động phát thải của các quốc gia
Thủ tướng Scott Morrison nhận định rằng các quốc gia đang phát triển phát thải gấp đôi so với những nền kinh tế phát triển. Phát biểu này đúng nhưng dễ gây hiểu lầm
Dữ liệu được Ngân hàng thế giới công bố vào năm 2018 cho thấy mức phát thải trên đầu người tại 3 nhóm quốc gia Thu nhập cao, Thu nhập trung bình và Thu nhập thấp. Sử dụng dữ liệu về dân cư (cũng của Ngân hàng thế giới vào năm 2015), người đọc có thể tính toán và đưa ra số liệu cụ thể về tổng mức phát thải của từng nhóm quốc gia. Thông số được thể hiện dưới dạng bảng như sau (trong đó, Trung Quốc được xếp vào nhóm quốc gia thu nhập trung bình).
| Quốc gia | Dân số (triệu người) | CO2 (triệu tấn) | Tỷ lệ CO2 | CO2 (khối/người) | |
| Thu nhập cao | 79 | 1,164 | 6,025 | 34% | 5.1770 |
| Thu nhập trung bình cao | 55 | 2,434 | 3,513 | 20% | 1.4433 |
| Thu nhập trung bình thấp | 55 | 3,104 | 6,084 | 35% | 1.9602 |
| Thu nhập thấp | 27 | 581 | 1,972 | 11% | 3.3957 |
Số liệu cụ thể cho thấy, tỷ lệ phát thải trên đầu ngươi của nhóm nước Thu nhập cao gấp từ 2.5 đến 3 lần so với nhóm quốc gia Thu nhập trung bình. Trong khi đó, những nước Thu nhập thấp có lượng phát thải cao là bởi nguồn năng lượng vận hành nền kinh tế sử dụng chủ yếu là năng lượng than và củi.
Bộ trưởng Môi trường Ấn Độ trong các phát biểu trước đây cho biết một số quốc gia có mức phát thải đầu người cao gấp 9 lần tỷ lệ trung bình toàn cầu; tuy nhiên, ông từ chối nêu tên cụ thể đất nước có mức thải khí cao như vừa nêu.
Tuyên bố trên không chuẩn xác – phát thải bình quân đầu người toàn cầu là 4.48 tấn, trong đó quốc gia có mức phát thải cao nhất chính là Qatar với mức 32.41 tấn/người. Úc và Hoa Kỳ nằm trong nhóm 10 nước có phát thải bình quân cao nhất tương đương 15 tấn/người.
Như vây thế giới sẽ không thể tiến đến thời điểm phát thải bằng 0 chỉ bằng biện pháp yêu cầu các nền kinh tế đang phát triển giảm lượng khi thải tương đương với mức của những nền kinh tế phát triển; các nước giàu cần xác định và tiến hành giảm phát thải theo định mức riêng của mình.
Do đó, Úc cùng các thị trừơng nhập khẩu chính than và khí của nước này nên cam kết hướng đến không phát thải vào năm 2050, trong đó, đảm bảo việc cắt giảm mạnh mẽ khí thải vào năm 2030.
Chính sách năng lượng mà nhiều quốc gia đang theo đuổi có thể tác động mạnh mẽ đến nền kinh tế Úc. Tuy vậy, trong bối cảnh như đã nêu, nhiều doanh nghiệp lớn trong ngành khai mỏ xứ chuột túi như Joyce và Canavan – đang kìm hãm các chính sách về khí hậu của quốc đảo, đồng thời để mặc cho lao động trong ngành này nhìn các thị trường xuất khẩu dần biến mất.
Nguồn: Innovation Aus
Từ khóa: Úc, khí hậu, than, khí
Các tin khác
- Global Times: Điều gì cản trở các bước hội nhập kinh tế khu vực của Ấn Độ trong 75 năm qua? - 24/08/2021
- FTAP - kênh thông tin chính xác, hiệu quả - 23/08/2021
- Vương quốc Anh đang nhắm tới một thỏa thuận thương mại 'tạm thời' với Ấn Độ - 23/08/2021
- Ngành bán lẻ Mỹ: đã đến lúc khép lại cuộc chiến thương mại Mỹ - Trung Quốc - 23/08/2021
- Hiệp định EVFTA: Mở cơ hội thị trường tới doanh nghiệp vừa và nhỏ - 23/08/2021






















