JSN_TPLFW_TOGGLE_MENU
Phân tích - Bình luậnHội nhập kinh tế quốc tếToàn cầu hóa chưa hạ nhiệt tại Trung Quốc

Toàn cầu hóa chưa hạ nhiệt tại Trung Quốc

toan cau hoa tq 10.5.21

Tại sao Trung Quốc vẫn tiếp tục tự do hóa thương mại và đầu tư, khi mà làn sóng phản đối và nghi ngờ toàn cầu hóa gia tăng? Mặc dù điều ngược lại có thể đúng ở một số quốc gia phát triển, quá trình toàn cầu hóa ở Trung Quốc đang giúp tối ưu hóa cấu trúc nền kinh tế và cải thiện hiệu suất. Sự mở cửa và phát triển của Trung Quốc cũng đang đóng góp đáng kể vào quá trình hội nhập của khu vực châu Á.

Trong vài năm qua, Trung Quốc đã tìm cách tự do hóa nhiều hơn cho lĩnh vực đầu tư và thương mại, ngay cả trong giai đoạn đại dịch Covid-19 và xuyên suốt cuộc chiến thương mại Mỹ-Trung. Trong thời chính quyền Trump, Trung Quốc đã loại bỏ các hạn chế về quyền sở hữu, tiêu chuẩn khu vực và tiêu chuẩn tối thiểu đối với dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) trong lĩnh vực tài chính, dẫn đến sự bụng nổ vốn đầu tư nước ngoài. Trung Quốc tiếp tục cắt giảm danh mục đầu tư “tiêu cực” – bao gồm những lĩnh vực mà nhà đầu tư nước ngoài bị cấm hoặc hạn chế - từ 100 hạng mục xuống còn 33 hạng mục. Họ cũng đơn phương cắt giảm thuế quan từ mức trung bình 9,8% xuống còn 7,5%.

Trong năm 2020, Trung Quốc đã ký Hiệp định thương mại Đối tác Kinh tế Toàn diện Khu vực (RCEP) với 15 quốc gia và Hiệp định Đầu tư Toàn diện (CAI) với Liên minh Châu Âu. Nhiều hiệp định thương mại tự do (FTA) khác cũng đang được triển khai. Theo bản Kế hoạch 5 năm mới nhất và bản đề xuất Các mục tiêu Dài hạn đến Năm 2035 của Bắc Kinh, Trung Quốc sẽ tích cực theo đuổi đàm phán khu vực thương mại tự do ba bên với Hàn Quốc và Nhật Bản; xin gia nhập Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP); và tiếp tục thúc đẩy mạnh mẽ các dự án xây dựng trong Sáng kiến Vành đai Con đường (BRI). Cho đến hiện tại, Trung Quốc đã ký 205 thỏa thuận hợp tác với 171 quốc gia và tổ chức quốc tế thông qua BRI.

Quá trình toàn cầu hóa ở một số nước đã phát triển, đặc biệt là tại Mỹ và Vương quốc Anh, được cho là đã đi quá xa và mất tính hiệu quả. Nếu chỉ có lĩnh vực thương mại được tự do hóa, lợi ích sẽ được cải thiện và phân bổ cho tất cả mọi người. Nhưng nếu lĩnh vực đầu tư cũng được tự do hóa trong cùng giai đoạn, một số số ngành nghề có lợi thế so sánh sẽ dịch chuyển, dẫn đến mất việc làm trong các ngành có thu nhập cao, những ngành sản xuất tạo giá trị gia tăng, và ngành dịch vụ. Ngoài ra, nó còn dẫn đến một số hệ quả như thu nhập phân bổ không đều và tổn thất phúc lợi. Vấn đề này có thể được gọi là bẫy toàn cầu hóa, và nó cần được điều tiết bởi chính sách quốc gia.

Ngược lại, nếu một quốc gia đang phát triển chủ động thu hút đầu tư nước ngoài, họ có thể tạo ra một “siêu hỗn hợp” – đó là hỗn hợp giữa các nhân tố nước ngoài (như công nghệ tiên tiến, vốn nước ngoài và các thị trường quốc tế mở cửa) và các nhân tố nội địa (như lao động giá rẻ, cơ sở vật chất và các mạng lưới). “Siêu hỗn hợp” này tạo ra những lợi thế so sánh mới và cũng có thể tạo ra những ngành nghề có khả năng cạnh tranh toàn cầu sau một khoảng thời gian ngắn. Nó có thể tái định hình xu hướng cạnh tranh toàn cầu trong gần như mọi ngành nghề và thị trường.

Đây chính xác là những gì đã diễn ra tại Trung Quốc trong 40 năm qua. Những ngành xuất khẩu nổi lên đâu tiên ở nước này là những ngành sản xuất thâm dụng lao động. Đa phần thuộc về lĩnh vực gia công thương mại với các linh kiện nhập khẩu, và gắn liền với các công ty có vốn đầu tư nước ngoài, trong giai đoạn những năm 1980 và 1990. Sau đó, các công ty tư nhân nội địa phát triển nhanh chóng và trở thành những nhân tố chủ lực trong ngành xuất khẩu Trung Quốc. Đến năm 2020, nhóm doanh nghiệp này chiếm hơn 54% tổng giá trị xuất khẩu của Trung Quốc, trong khi các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chỉ chiếm 36%.

Gần đây, những ngành xuất khẩu chủ lực đang tập trung vào các mặt hàng công nghệ cao và hàng hóa trung gian. Mặc dù phần lớn các mặt hàng xuất khẩu này được thiết kế bởi công ty nước ngoài, nhưng việc sản xuất và lắp ráp lại được thực hiện tại Trung Quốc. Điều này mang lại cho các công ty Trung Quốc cơ hội để bắt kịp và tiềm năng thay thế các công ty nước ngoài.

Trong những năm gần đây, một số ngành công nghiệp tại Trung Quốc đang di dời sang những quốc gia gần kề như Việt Nam, Bangladesh và Campuchia. Động thái này cho thấy sự nâng cấp về hiệu suất, tạo cơ hội cho Trung Quốc tiếp cận những ngành công nghiệp hiệu quả cao hơn, trong khi những ngành kém hiệu quả và việc làm cấp thấp chuyển đi nơi khác.

Hiện tượng này lý giải sức cạnh tranh xuất khẩu của hàng Trung Quốc. Có thể nói rằng, thành tích xuất sắc của Trung Quốc trong lĩnh vực xuất khẩu không phải là kết quả từ những chính sách không công bằng hay từ việc đánh cắp tài sản trí tuệ. Mà thay vào đó, ngoài những yếu tố đề cập bên trên, Trung Quốc cũng có những lợi thế khác như một thị trường nội địa rộng lớn, lực lượng lao động chất lượng cao, các mạng lưới cung ứng sản xuất rộng rãi và sự đầu tư đáng kể cho hoạt động nghiên cứu và phát triển.

Sự mở cửa không ngừng nghỉ của Trung Quốc sẽ tái định hình nền thương mại và kinh tế toàn cầu theo ba hướng.

Thứ nhất, Trung Quốc sẽ chuyển dịch nhiều ngành công nghiệp thâm dụng lao động hơn sang các nước láng giềng. Điều này sẽ thúc đẩy phát triển kinh tế khu vực và kích thích quá trình mở rộng hội nhập khu vực Châu Á. Hoạt động đầu tư vào lĩnh vực sản xuất cũng sẽ thúc đẩy hợp tác BRI với các quốc gia này.

Thứ hai, Trung Quốc đang tìm cách thu hút nhiều vốn đầu tư nước ngoài hơn vào các ngành công nghệ cao, góp phần làm mạng lưới sản xuất khu vực châu Á phát triển sâu rộng. Trong năm 2020, Trung Quốc đã trở thành điểm đến FDI lớn nhất thế giới, với hầu hết các khoảng đầu tư mới là vào lĩnh vực dịch vụ.

Thứ ba, Trung Quốc cung cấp một thị trường rộng lớn để phát triển và hội nhập ở các nước châu Á khác. Trong những thập kỷ trước, các nền kinh tế Đông Á như Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Singapore và Hồng Kông đã áp dụng chiến lược định hướng xuất khẩu và phụ thuộc nhiều vào thị trường Mỹ. Giá trị thương mại từ các nền kinh tế Đông Á chiếm gần một phần 3 thị trường Mỹ. Điều này khiến cho quá trình hội nhập Đông Á trở nên dễ bị tổn thương do dòng chảy thương mại nội khối còn hạn chế.

Với sự trỗi dậy của nền kinh tế Trung Quốc, các thị trường khác ở Châu Á sẽ mở rộng và tỷ trọng thương mại nội khối sẽ tăng lên. Trong khi đó, sự phụ thuộc vào các thị trường bên ngoài sẽ giảm. Những yếu tố này sẽ biến Châu Á trở thành một trung tâm sản xuất và tiêu dùng lớn hơn nữa, đồng thời đẩy nhanh quá trình chuyển dịch về phía đông của nền kinh tế thế giới.

Nguồn: East Asia Forum

Từ khóa: Hội nhập kinh tế khu vực, toàn cầu hóa, dịch chuyển chuỗi cung ứng, tự do thương mại

Chuyên mục RCEP

JSN_TPLFW_TOGGLE_MENU

Phân tích - Bình luận

JSN_TPLFW_TOGGLE_MENU

Thư viện hội nhập

thu vien


phong ve thuong mai

Video

Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field

Liên kết

 

Lượt truy cập

008795981
Go to top