
Thực hiện hoặc đe dọa một lãnh thổ khác bằng các biện pháp trừng phạt kinh tế để đạt được mục đích chính trị của quốc gia là một chiến thuật lâu đời. Ở thời kỳ cổ đại và trung cổ, các biện pháp phong tỏa thương mại đã được thực hiện để có được các đặc quyền thương mại hoặc buộc các đối thủ đầu hàng. Ngày nay, với quá trình toàn cầu hóa, các lãnh thổ được kết nối và phụ thuộc lẫn nhau nhiều hơn, và các cơ chế rào cản thương mại cũng đang phát triển trong những hoàn cảnh mới này.
Các công cụ trừng phạt phổ biến trong thương mại bao gồm thuế nhập khẩu, các biện pháp phòng vệ thương mại và các lệnh cấm hoặc hạn chế xuất khẩu ảnh hưởng đến từng hàng hóa cụ thể từ một quốc gia cụ thể. Các phương pháp khác bao gồm cắt viện trợ nước ngoài, đóng băng tài chính, loại bỏ các ngân hàng ra khỏi hệ thống thanh toán của SWIFT (Hiệp hội Viễn thông Tài chính Liên ngân hàng Toàn cầu), từ chối cấp phép và tẩy chay những sản phẩm cụ thể.
Tuy nhiên, trong nền kinh tế toàn cầu phụ thuộc lẫn nhau như hiện nay, hầu hết các hành vi trừng phạt này đã được chứng minh là không hiệu quả. Ví dụ như trong quá trình đàm phán thương mại Mỹ - Trung giai đoạn 1, chính quyền Trump đã không thể buộc Trung Quốc tăng cường mua các sản phẩm và dịch vụ từ các ngành sản xuất, nông nghiệp và năng lượng như đã thỏa thuận ban đầu. Nghiên cứu gần đây của Chad Bown cho thấy, xuất khẩu của Hoa Kỳ sang Trung Quốc đối với các hàng hóa nằm trong thỏa thuận đạt tổng trị giá 94 tỉ USD vào cuối năm 2020, tăng 13% so với năm 2019 và chỉ đạt 59% so với cam kết.
Trừng phạt kinh tế cũng tác động ngược đến quốc gia đưa ra áp đặt. Các doanh nghiệp và người tiêu dùng của Hoa Kỳ đã phải trả giá cho việc tăng thuế đối với các sản phẩm của Trung Quốc thông qua việc tăng giá hàng tiêu dùng nhập khẩu và chi phí nhập khẩu tăng cao đối với linh kiện và thiết bị từ Trung Quốc dùng để sản xuất hàng hóa và cung cấp dịch vụ tại Hoa Kỳ. Trước đại dịch Covid-19, xuất khẩu hàng hóa của Hoa Kỳ sang Trung Quốc giảm 11,2% trong năm 2019 do các mức thuế trả đũa của Trung Quốc để đáp lại quyết định tăng thuế đối với một loạt các sản phẩm của nước này. Việc trả đũa này đã ảnh hưởng đến người lao động trong các doanh nghiệp Hoa Kỳ khi bất ngờ phải đối mặt với các điều khoản bất lợi để cạnh tranh trên thị trường Trung Quốc.
Thỏa thuận giai đoạn 1 cũng tác động tiêu cực đến bên thứ ba, vì việc Trung Quốc nhập khẩu nhiều hơn từ Hoa Kỳ đồng nghĩa với việc nhập khẩu ít hơn từ các bên khác. Ví dụ, trong năm 2019, Trung Quốc đã tăng nhập khẩu đậu nành của Mỹ thêm 77% (từ 7,9 tỉ USD lên 14,2 tỉ USD) nhưng giảm nhập khẩu đậu nành từ Argentina đến 38% (từ 3 tỉ USD xuống còn 1,8 tỉ USD).
Trừng phạt kinh tế cũng làm phức tạp thêm tình hình khôi phục các mối quan hệ, vốn dựa trên sự tin tưởng lẫn nhau. Làm tăng cường chủ nghĩa dân tộc và tạo ra sự ác cảm đối với những nước ban hành các hình thức trừng phạt và hình thành tâm lí chống đối đối với những quốc gia đang chịu các hình thức này.
Vào năm 2019, Nhật Bản thực hiện các biện pháp kiểm soát xuất khẩu chặt chẽ hơn đối với hydro florua, polyimide flo và chất quang học – ba loại hóa chất quan trọng để sản xuất chất bán dẫn – sang Hàn Quốc, với tuyên bố rằng những hóa chất này có thể được sử dụng vào mục đích quân sự nếu bán cho bên thứ 3 có thái độ thù địch.
Tại Hàn Quốc, biện pháp này của Nhật Bản được xem là sự trả đũa đối với quyết định của Tòa án Tối cao Hàn Quốc yêu cầu các công ty Nhật Bản bồi thường cho những người Hàn Quốc từng bị sử dụng làm lao động cưỡng bức trong Chiến tranh Thế giới lần 2. Các biện pháp kiểm soát xuất khẩu của Nhật Bản khiến cho người tiêu dùng ở Hàn Quốc tẩy chay các sản phẩm của Nhật Bản, dẫn đến nhà sản xuất ô tô Nissan rút khỏi thị trường Hàn Quốc. Hàn Quốc trả đũa bằng việc loại Nhật Bản ra khỏi “danh sách trắng” các đối tác thương mại được ưu tiên.
Các biện pháp kiểm soát xuất khẩu của Nhật Bản – Hàn Quốc đã ảnh hưởng đến chuỗi cung ứng sản phẩm công nghệ thông tin, vì các công ty ở Hàn Quốc chủ yếu nhập khẩu các hóa chất này từ Nhật Bản. Không có gì ngạc nhiên khi các nhà tài phiệt của Hàn Quốc đang tìm chiến lược để tách biệt một phần khỏi Nhật Bản, chẳng hạn như xác định các nguồn nhập khẩu khác và đầu tư sản xuất trong nước các hóa chất quan trọng này để sản xuất chất bán dẫn.
Không có biện pháp nào được thực hiện trong cuộc xung đột thương mại Nhật Bản – Hàn Quốc mà dẫn đến buộc bên kia phải thay đổi lập trường của mình. Ngược lại, áp lực chia tách hai nền kinh tế đã làm phức tạp thêm mối quan hệ kết nối thương mại trên cơ sở lợi thế so sánh giữa hai nước, cũng như gây tăng chi phí kinh doanh tại cả hai quốc gia.
Tương tự, các hành động gần đây của Trung Quốc đối với xuất khẩu của Úc đã không đạt hiệu quả trong việc buộc Úc phải đảo ngược quyết định ngăn chặn các hợp đồng đầu tư nước ngoài của Trung Quốc trong các lĩnh vực chiến lược – bao gồm lệnh cấm Huawei cung cấp thiết bị cho mạng 5G của Úc và kêu gọi Tổ chức Y tế Thế giới độc lập điều tra về nguồn gốc của Covid-19.
Thuế quan của Trung Quốc và các hạn chế thương mại khác đã ảnh hưởng đến các doanh nghiệp Úc khi chuyển hướng mua hàng sang các nhà cung cấp khác. Việc Trung Quốc áp đặt các biện pháp chống bán phá giá và thuế đối kháng đối với lúa mạch của Úc đã làm sụt giảm xuất khẩu lúa mạch của Úc sang Trung Quốc – thị trường xuất khẩu chính của Úc – từ 410 triệu USD xuống còn 330 triệu USD trong giai đoạn 2019 – 2020.
Hậu quả của những hành vi gây tác động thương mại này là uy tín của Trung Quốc ở Úc và trên thế giới bị suy giảm nhanh chóng. Theo cuộc khảo sát của Trung tâm nghiên cứu Pew năm 2020 cho thấy 81% người Úc được phỏng vấn có quan điểm tiêu cực về Trung Quốc, tăng so với mức 32% trong năm 2017. Cuộc khảo sát này cho thấy, các hành động của Trung Quốc đã bị phản tác dụng trong việc tác động đến các nhóm người Úc đang vận động hành lang cho những thay đổi chính sách phù hợp với lợi ích chính trị của Trung Quốc.
Làm việc cùng nhau là điều quan trọng trong thời đại toàn cầu hóa, vì sự phụ thuộc lẫn nhau ngày càng cao và chi phí trừng phạt hai chiều và những tác động phức tạp lên bên thứ ba. Xây dựng mối quan hệ lâu dài dựa trên niềm tin giữa các chính phủ là bước quan trọng nhằm giảm việc sử dụng các biện pháp trừng phạt kinh tế và giải quyết các tranh chấp một cách thân thiện.
Carlos Kuriyama là chuyên gia phân tích cấp cao thuộc Cơ quan hỗ trợ chính sách APEC
Nguồn: East Asia Forum
Từ khóa: lĩnh vực chiến lược, thuế đối kháng, chính sách phù hợp, lợi ích chính trì
Các tin khác
- Mỹ-Nhật sẽ ‘chơi’ như thế nào trên ‘bàn cờ RCEP’, nơi Trung Quốc đang có lợi thế? - 07/05/2021
- Thương mại điện tử tạo động lực phát triển logistics - 07/05/2021
- Xúc tiến thương mại: Kênh hỗ trợ chủ đạo thúc đẩy xuất khẩu - 07/05/2021
- Nước Mỹ vừa 'tiến thêm một bước' để giúp thế giới có nhiều vaccine hơn - 07/05/2021
- Xuất khẩu của Việt Nam đang lan tỏa đi đâu? - 06/05/2021






















