JSN_TPLFW_TOGGLE_MENU
Phân tích - Bình luậnHội nhập kinh tế quốc tếThỏa thuận thương mại giai đoạn một giữa Mỹ và Trung Quốc: Những thách thức đối với việc mở rộng thương mại

Thỏa thuận thương mại giai đoạn một giữa Mỹ và Trung Quốc: Những thách thức đối với việc mở rộng thương mại

C1

Sau một năm kể từ khi Mỹ và Trung Quốc ký thoả thuận thương mại giai đoạn một, những thách thức mang tính hệ thống đối với việc thực hiện đầy đủ hiệp định này vẫn còn tồn tại. Sự quản trị phân quyền của Trung Quốc, những hạn chế trong cơ chế giải quyết tranh chấp của thỏa thuận và sự thất bại trong giải quyết các vấn đề cơ bản trong mối quan hệ kinh tế song phương đã hạn chế triển vọng đạt được các mục tiêu về mở rộng thương mại của thỏa thuận giai đoạn 1. Hậu quả là, sự bóp méo thị trường có thể tác động tiêu cực đến các đối tác thương mại quốc tế, và việc Trung Quốc tìm kiếm các các đối tác để thay thế cho hàng nhập khẩu từ Mỹ sẽ cản trở tiến độ trong các cuộc đàm phán tiếp theo.

Chương 6 của Hiệp định Kinh tế và Thương mại Mỹ - Trung, được ký kết bởi cựu Tổng thống Donald Trump và Phó Thủ tướng Lưu Hạc vào ngày 15 tháng 01 năm 2020, có ghi: Trung Quốc đồng ý nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ từ Mỹ thêm 200 tỷ USD so với mức năm 2017, trong thời gian hai năm. Tuy nhiên, cơ chế quản trị của Trung Quốc và lợi ích của Đảng Cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ) làm phức tạp thêm việc thực hiện thỏa thuận giai đoạn một. Việc không đạt được các mục tiêu cụ thể có nguy cơ làm giảm triển vọng đàm phán thành công dưới thời của chính quyền Biden.

Những ràng buộc về kinh tế

Theo thỏa thuận giai đoạn một, Trung Quốc cần đạt các mục tiêu về nhập khẩu, tuy nhiên khả năng đạt được các mục tiêu này có thể bị hạn chế bởi sự khác biệt trong quản lý ở cấp địa phương và những ràng buộc ở cấp doanh nghiệp. Hơn nữa, suy thoái kinh tế do đại dịch COVID-19 làm cho triển vọng hiện tại về việc đáp ứng các yêu cầu nhập khẩu là khó thực hiện và sự phục hồi kinh tế năm 2020 của Trung Quốc đang che lấp sự sai biệt khu vực. Cụ thể, Hồ Bắc là tỉnh bị ảnh hưởng nặng nề nhất, GDP suy giảm trên 10% từ tháng 9 năm 2019 đến tháng 9 năm 2020. Do Hồ Bắc có vai trò quan trọng liên quan đến chuỗi cung ứng sản xuất ô tô, thiết bị điện và đóng tàu, đồng nghĩa với việc Trung Quốc sẽ bị ảnh hưởng rất lớn đến việc đáp ứng yêu cầu trong các lĩnh vực đó. Các mức thuế quan của Mỹ tiếp tục làm hạn chế nhu cầu của Trung Quốc đối với các sản phẩm của Mỹ, điều này làm gia tăng căng thẳng đối với các nhà xuất khẩu Trung Quốc.

Chính sách hỗ trợ của Trung ương và chính quyền cấp tỉnh còn nhiều hạn chế trong việc giải quyết vấn đề này đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ (SME), vốn đóng vai trò quan trọng trong tăng trưởng của Trung Quốc. Các giải pháp tài khóa của Trung ương được đưa ra vào tháng 2 năm 2020, giúp giảm bớt những gánh nặng về vay vốn đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Tuy nhiên, nhiều chính quyền cấp tỉnh đã cắt giảm mục tiêu GDP năm 2020 và BCH Trung ương Đảng không đề cập đến mục tiêu tốc độ tăng trưởng trong Hội nghị toàn quốc lần thứ 5, đã phản ánh một thực tế là các mục tiêu của Hiệp định khó có thể đạt được. Vào tháng 10 năm 2020, kim ngạch xuất khẩu của Mỹ sang Trung Quốc chỉ đạt 57% so với mục tiêu cả năm.

Các nhà nhập khẩu Trung Quốc sẽ phản đối việc mua hàng hóa và dịch vụ nếu hàng hóa xuất khẩu của Mỹ không được giá cạnh tranh. Nhiều công ty Trung Quốc đã chấp nhận cuộc chiến thương mại bằng cách thiết lập mối quan hệ chặt chẽ hơn với các đối tác thương mại khác, chẳng hạn như các nhà xuất khẩu đậu tương của Brazil. Các công ty này sẽ tìm cách né tránh bất kỳ chỉ thị nào của nhà nước mà có thể làm giảm lợi nhuận của công ty, ví dụ như yêu cầu chuyển đổi nhà cung cấp.

Các hạn chế của Cơ chế giải quyết tranh chấp trong thỏa thuận thương mại

Các điều kiện về mở rộng thương mại trong thỏa thuận giai đoạn 1 cung cấp cho Trung Quốc thêm đòn bẩy thương mại mà nước này có thể sử dụng, nếu nước này cho rằng có các mối đe dọa đối với lợi ích cơ bản của mình. Cụ thể, Điều 6.2 của Thỏa thuận cho phép Trung Quốc khiếu nại các hành động của Mỹ vì đã không thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ theo thỏa thuận. Quy định này khá mơ hồ, qua đó, Trung Quốc có thể sẽ viện dẫn sự can thiệp không mong muốn của Mỹ vào chính trị nội địa Trung Quốc làm lý do để khởi kiện. Việc ĐCSTQ tập trung vào sự ổn định trong nước trước và nhấn mạnh vào sự tự cường đồng nghĩa với việc nước này sẽ ưu tiên các mục tiêu trong nước hơn so với việc đáp ứng các điều kiện trong thỏa thuận thương mại, nếu nhận thấy có mối đe dọa từ các chính sách của Mỹ.

Do đó, việc Mỹ áp dụng chính sách “cứng rắn với Trung Quốc” có thể làm tồi tệ thêm triển vọng đạt được các mục tiêu nhập khẩu của Trung Quốc, vì các chính sách tác động đến lợi ích của ĐCS sẽ khiêu khích Trung Quốc, khiến nước này không vội thực hiện việc mua hàng Mỹ. Các chính sách hạn chế của Mỹ đối với Hồng Kông và các công ty viễn thông Trung Quốc khó có thể làm thay đổi căn bản các ưu tiên chính sách của ĐCSTQ, mà còn có tác dụng phụ làm Trung Quốc giảm mức độ sẵn sàng tuân thủ thỏa thuận thương mại. Ngoài ra, các hạn chế về xuất khẩu của Mỹ trên cơ sở an ninh quốc gia sẽ làm giảm các loại hàng hóa mà Mỹ có thể xuất khẩu. Nếu Mỹ chỉ trích việc Trung Quốc không đạt được các mục tiêu mua hàng của Mỹ, Bắc Kinh có thể sẽ viện dẫn lí do là do các biện pháp kiểm soát xuất khẩu của Mỹ, vì các hành động đơn phương trên của Mỹ đã làm gián đoạn thương mại.

Trong buổi khai mạc Đại hội Đại biểu Nhân dân Toàn quốc vào tháng 5 năm 2020, Thủ tướng Lý Khắc Cường tái khẳng định cam kết của Trung Quốc đối với các thỏa thuận giai đoạn một. Tuy nhiên, cuối tháng đó, cựu Tổng thống Trump đã đe dọa thu hồi quy chế thương mại của Hồng Kông sau khi luật an ninh quốc gia được ban hành. Đảng Cộng Sản Trung Quốc đáp lại bằng cách chỉ thị cho các doanh nghiệp nhà nước Cofco và Sinograin đình chỉ việc mua đậu tương của Mỹ. Sự mâu thuẫn trong chính sách của Đảng đã chỉ ra các mục tiêu ưu tiên lớn hơn của họ và phản ánh cách thức cam kết nhập khẩu là một hình thức đòn bẩy mà Bắc Kinh có thể đưa vào các lựa chọn chiến lược kinh tế của mình. Phần lớn thịt lợn và đậu tương nhập khẩu của Trung Quốc từ Mỹ đã được thay thế bởi Brazil vào năm 2020. Nhập khẩu từ Brazil tăng mạnh có nghĩa là các công ty Trung Quốc có thể không cần nhập nhiều hàng hóa từ Mỹ để đáp ứng nhu cầu nội địa.

Việc ĐCSTQ nhấn mạnh vào chiến lược “tuần hoàn kép” và sáng kiến “Made in China 2025” có thể cho thấy sự chú trọng vào tự lực và công nghiệp hóa thay thế nhập khẩu, một xu hướng mâu thuẫn với các mục tiêu tự do hóa thương mại. Mặc dù phải đối mặt với nhiều thách thức, Trung Quốc đang cố gắng chuyển đổi sang nền kinh tế dựa vào tăng trưởng nội địa, nhấn mạnh khả năng đáp ứng nhu cầu của các nhà cung cấp Trung Quốc thay vì phải dựa vào nhập khẩu - chiến lược mà Mỹ đang tìm cách mở rộng.

Quan hệ mật thiết và rủi ro

Chương mở rộng thương mại của Hiệp định còn nhiều hạn chế trong việc giải quyết các vấn đề cơ bản. Các yêu cầu nghiêm ngặt của thỏa thuận ám chỉ ra rằng, để đạt được các mục tiêu trên, chính phủ Trung Quốc cần chỉ đạo các công ty mua hàng hóa của Mỹ, do đó tăng cường sự can thiệp của nhà nước vào nền kinh tế và vì vậy, đi ngược lại với mục tiêu đưa Trung Quốc trở thành một nền kinh tế định hướng thị trường.

Chính quyền Trung Quốc có thể chọn nhập khẩu một số lượng thấp những loại hàng hóa từ Mỹ không được đề cập trong thỏa thuận thương mại Mỹ - Trung, ước tính khoảng 51,6 tỷ USD. Nếu Trung Quốc làm vậy, điều này có thể tác động tiêu cực đến các công ty khác của Mỹ và các đối tác thương mại quốc tế. Trái ngược với mong muốn của Mỹ, điều này càng khuyến khích Trung Quốc tăng cường sự can thiệp của nhà nước vào hoạt động thương mại.

Các mức thuế đối với nhiều sản phẩm vẫn được áp dụng, và nếu các yêu cầu của giai đoạn một không được đáp ứng, sẽ là một thách thức để tiến hành các mức thuế tiếp theo. Ngoài ra, sự xói mòn lòng tin trong quan hệ Mỹ - Trung diễn ra đồng thời với việc Bắc Kinh đầu tư mạnh vào việc tăng cường quan hệ với các quốc gia khác thông qua Sáng kiến một Vành đai một Con đường (BRI). Được đề xuất vào năm 2013, BRI là một sáng kiến có trị giá hàng nghìn tỷ đô la bao gồm một loạt các dự án đầu tư. Bằng cách tài trợ cho nhiều lĩnh vực như cảng, đường sắt và đường cao tốc ở trong và ngoài nước, Trung Quốc mong muốn trở thành trung tâm của mạng lưới kinh tế kết nối toàn cầu. Vào tháng 11 năm 2020, Trung Quốc và 14 quốc gia khác đã ký Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện Khu vực (RCEP). Động thái này đã giúp thiết lập Hiệp định thương mại tự do lớn nhất thế giới, tuy nhiên đáng chú ý là không bao gồm Mỹ. Khi Trung Quốc càng tin rằng họ có thể đạt được các mục tiêu kinh tế của mình thông qua các nguồn ngoại giao khác, thì Trung Quốc càng ít phụ thuộc vào việc tuân thủ các yêu cầu đặt ra trong các vòng đàm phán thương mại tiếp theo.

Nguồn: Global Risk Insights

Từ khóa: thỏa thuận giai đoạn 1 Mỹ và Trung Quốc, mở rộng thương mại

Chuyên mục RCEP

JSN_TPLFW_TOGGLE_MENU

Phân tích - Bình luận

JSN_TPLFW_TOGGLE_MENU

Thư viện hội nhập

thu vien


phong ve thuong mai

Video

Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field

Liên kết

 

Lượt truy cập

008795651
Go to top