
Hiệp định toàn diện về đầu tư giữa EU và Trung Quốc là một chiến thắng cho Trung Quốc, đồng thời là một đòn giáng mạnh vào mối quan hệ xuyên Đại Tây Dương giữa Mỹ và EU.
Vào ngày 16 tháng 12 năm 2019 tại một sự kiện ở Brussels, Bộ trưởng Ngoại giao Trung Quốc Vương Nghị tuyên bố rằng Trung Quốc khó có thể ký một thỏa thuận đầu tư với Liên minh châu Âu, bởi vì Trung Quốc là một “nền kinh tế đang phát triển”. Tua nhanh đến ngày 30 tháng 12 năm 2020, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình đã có một cuộc họp trực tuyến được mong đợi từ lâu với các nhà lãnh đạo bên phía Liên minh châu Âu bao gồm Thủ tướng Đức Angela Merkel và Tổng thống Pháp Emmanuel Macron. Sau cuộc họp đó, Liên minh châu Âu đưa ra tuyên bố báo chí, nói rằng “EU và Trung Quốc đã kết thúc về nguyên tắc các cuộc đàm phán cho một Hiệp định Toàn diện về Đầu tư (CAI).” Chuyện gì đã xảy ra?
Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) của Trung Quốc vào EU đã tăng theo cấp số nhân trong vài năm qua, chủ yếu hướng vào các lĩnh vực chiến lược là cơ sở hạ tầng và công nghệ cao. Theo dữ liệu của Ủy ban châu Âu, dòng vốn FDI lũy kế của Trung Quốc vào EU đã lên tới gần 120 tỷ euro. Tuy nhiên, đầu tư của EU vào Trung Quốc thậm chí còn cao hơn, lên tới hơn 140 tỷ euro. Khoảng một nửa FDI của EU vào Trung Quốc là chảy vào lĩnh vực sản xuất, trong đó, ngành công nghiệp ô tô của Đức chiếm chủ yếu.
Đức cũng giữ chức chủ tịch luân phiên của EU trong nửa cuối năm 2020. Thủ tướng Đức Merkel đã ưu tiên ký kết thỏa thuận vào cuối nhiệm kỳ của bà. Bà đã thuyết phục các nhà lãnh đạo EU khác chấp nhận một thỏa thuận có lợi cho ngành công nghiệp Đức. Các quan chức cấp cao của Đức trong Ủy ban châu Âu đã thúc đẩy các cuộc đàm phán đi đến kết thúc. Về phía Trung Quốc, ông Tập cũng đã can thiệp với tư cách cá nhân, một động thái bất thường chưa từng có, và nhượng bộ để đạt được thỏa thuận. Đối với EU, CAI là cơ hội để thể hiện “quyền tự chủ chiến lược” của mình trong quan hệ đối ngoại trước khi chính quyền mới của Hoa Kỳ thành lập. Còn đối với Trung Quốc, đó là một cách để chia rẽ quan hệ EU - Hoa Kỳ.
Tất cả các nước thành viên EU ngoại trừ Ireland đã ký kết các hiệp ước đầu tư song phương với Trung Quốc. Các thỏa thuận này có sự khác biệt rõ rệt với nhau, nhưng tựu trung lại đều chỉ đề cập đến việc bảo hộ đầu tư, chứ không phải tiếp cận thị trường. Hiệp định “Toàn diện” về Đầu tư giữa EU và Trung Quốc ban đầu dự định sẽ bao gồm cả vấn đề tiếp cận thị trường cũng như bảo hộ đầu tư. Tuy nhiên vào phút chót, văn kiện cuối cùng của thỏa thuận chỉ liên quan đến vấn đề tiếp cận thị trường, và vấn đề bảo hộ đầu tư sẽ được để lại cho một thỏa thuận khác trong tương lai. Các cuộc đàm phán về CAI không hề dễ dàng: bắt đầu từ năm 2013 và trải qua 35 vòng đàm phán.
Ủy ban châu Âu đã mô tả thỏa thuận này là “thỏa thuận tham vọng nhất mà Trung Quốc từng ký kết với nước thứ ba.” Thỏa thuận ràng buộc Trung Quốc phải tự do hóa lĩnh vực đầu tư và ngăn chặn Trung Quốc áp dụng các điều kiện tiếp cận thị trường thụt lùi cho các công ty EU. Ngoài ra, thỏa thuận cũng giúp loại bỏ các hạn chế định lượng, giới hạn vốn chủ sở hữu hoặc các yêu cầu liên doanh trong một số lĩnh vực. Trong lĩnh vực ô tô, Trung Quốc đã đồng ý loại bỏ các yêu cầu liên doanh và cấp quyền tiếp cận thị trường cho các loại xe năng lượng mới. Trong lĩnh vực y tế, Trung Quốc hứa sẽ loại bỏ các yêu cầu liên doanh đối với các bệnh viện tư nhân (mà Pháp đặc biệt quan tâm). CAI cũng sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc tiếp cận thị trường EU trong các lĩnh vực khác bao gồm R&D (tài nguyên sinh vật), dịch vụ viễn thông/lưu trữ đám mây, dịch vụ máy tính, vận tải hàng hải, vận tải hàng không và các dịch vụ khác. Về dịch vụ tài chính, các điều khoản mở cửa thị trường trong CAI là tương đương với các điều khoản trong thỏa thuận thương mại giai đoạn 1 giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc.
CAI cũng tìm cách cải thiện sân chơi bình đẳng cho các công ty EU. Để đảm bảo rằng các doanh nghiệp nhà nước của Trung Quốc hoạt động theo cơ chế thị trường, thỏa thuận này yêu cầu một doanh nghiệp phải cung cấp một số thông tin nhất định và cung cấp sự minh bạch về trợ cấp trong lĩnh vực dịch vụ. Để ngăn chặn việc ép buộc chuyển giao công nghệ, CAI cấm các yêu cầu chuyển giao công nghệ cho một đối tác liên doanh và can thiệp vào quyền tự do ký kết hợp đồng trong việc cấp phép công nghệ. Bí mật kinh doanh do các cơ quan quản lý thu thập (ví dụ như trong quá trình chứng nhận hàng hóa hoặc dịch vụ) sẽ được giữ kín. Ngoài ra, Trung Quốc sẽ cung cấp quyền tiếp cận bình đẳng các cơ quan thiết lập tiêu chuẩn đối với nhà đầu tư EU.
Tuy nhiên, bất chấp những cải thiện về tiếp cận thị trường và một sân chơi bình đẳng, cách đối xử của Trung Quốc đối với FDI của EU vào Trung Quốc vẫn thiếu sự cởi mở so với cách đối xử của EU đối với đầu tư của Trung Quốc. Thỏa thuận này không bao gồm bất kỳ cơ chế nào để cá nhân nhà đầu tư khởi kiện khi có tranh chấp, mà chỉ có cơ chế giải quyết tranh chấp ở cấp nhà nước với nhà nước và cơ chế giám sát cấp chính trị ở giai đoạn trước khi khởi kiện.
Thỏa thuận cũng tham chiếu đến các tiêu chuẩn về môi trường và lao động cũng như việc thực hiện Hiệp ước Paris về biến đổi khí hậu.
Quyền lao động
Có lẽ EU đã quá lạc quan khi tuyên bố rằng thỏa thuận mới “ràng buộc các bên vào một mối quan hệ đầu tư dựa trên giá trị”. Trên thực tế, rào cản cuối cùng trong quá trình đàm phán thỏa thuận là quyền lao động. Tình trạng cưỡng bức lao động vẫn còn được ghi nhận ở nhiều nơi bên trong Trung Quốc và nước này chưa cho phép tổ chức công đoàn độc lập.
Ủy ban Châu Âu tuyên bố rằng trong hiệp định CAI, Trung Quốc “cam kết nỗ lực hướng tới việc phê chuẩn các công ước cơ bản nổi bật của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) và cam kết sẽ phê chuẩn hai công ước cơ bản của ILO về lao động cưỡng bức mà nước này đến nay vẫn chưa thông qua.” Tuy nhiên, CAI lại không đặt ra bất kỳ thời hạn nào cho việc phê chuẩn các Công ước trên.
Các nhóm chính trị trong Nghị viện châu Âu, bao gồm cả Đảng Xanh châu Âu, đã chỉ ra rằng cam kết này là không đủ. Thành viên Đảng Xanh Reinhard Buetikofer, chủ tịch phái đoàn của Nghị viện Châu Âu về các mối quan hệ với Trung Quốc, đã hứa đấu tranh chống lại việc phê chuẩn CAI tại Nghị viện Châu Âu. Các nhà lãnh đạo công đoàn châu Âu cũng đã phản đối thỏa thuận này vì nguy cơ phá giá lao động.
Trước khi kết thúc các cuộc đàm phán, vào ngày 16/12/2020, bà Merkel đã bị chất vấn tại quốc hội Đức tại sao EU lại có thể ký một thỏa thuận đầu tư với một quốc gia không tôn trọng quyền lao động. Bà Merkel lúc ấy trả lời: “Chúng tôi rất coi trọng các tiêu chuẩn này của ILO và sẽ đạt được một điểm cân bằng phù hợp.” Tuy nhiên, người ta có thể tự hỏi làm thế nào EU có thể thực sự đạt được cân bằng giữa một bên là lợi ích kinh tế và một bên là thiệt hại về giá trị. Bao nhiêu lợi nhuận kinh tế có thể biện minh cho sự dung túng về vi phạm nhân quyền?
Chủ tịch Ủy ban Châu Âu Ursula von der Leyen đã đăng dòng tweet rằng “Thỏa thuận này sẽ duy trì lợi ích của chúng ta và thúc đẩy các giá trị cốt lõi của chúng ta. Nó cung cấp cho chúng ta một đòn bẩy để xóa bỏ lao động cưỡng bức”. Điều này nghe có vẻ như mơ tưởng. Shi Yinhong, một cố vấn của Hội đồng Nhà nước Trung Quốc, chỉ ra rằng Trung Quốc sẽ không bao giờ đồng ý thay đổi các quy tắc của mình về quyền lao động. Trên thực tế, điều này sẽ không tương thích với hệ thống quản trị Đảng - Nhà nước của Trung Quốc. “Về lao động, Trung Quốc không thể nhân nhượng”, ông nói với Financial Times. “Bạn có thể tưởng tượng một Trung Quốc với các liên đoàn lao động độc lập không? Lao động cưỡng bức cũng liên quan đến vấn đề Tân Cương, vì vậy đó là một vấn đề ‘bất khả xâm phạm’ khác đối với Trung Quốc.”
Một chiến thắng cho Trung Quốc
Từ trước đến nay, EU vốn đã rất cởi mở trong lĩnh vực đầu tư với rất ít hạn chế. CAI sẽ cải thiện thêm khả năng tiếp cận trong một số lĩnh vực sản xuất và lĩnh vực năng lượng, bao gồm năng lượng tái tạo, nhưng sẽ không tạo điều kiện thuận lợi cho đầu tư vào năng lượng hạt nhân. Như Ủy ban Châu Âu đã tuyên bố, “Các lĩnh vực nhạy cảm của EU, chẳng hạn như trong lĩnh vực năng lượng, nông nghiệp, thủy sản, nghe nhìn, dịch vụ công, v.v. đều được bảo lưu trong CAI”. Ngoài ra, cơ chế sàng lọc FDI của EU và lệnh hạn chế 5G vẫn đang tồn tại.
Bởi vì lợi ích của CAI đối với FDI của Trung Quốc vào EU là rất ít, nên những lợi ích của thỏa thuận này dành cho Trung Quốc phải nằm ở khía cạnh khác. Theo tác giả, Trung Quốc đạt được 3 lợi ích khi ký kết CAI. Thứ nhất, thỏa thuận sẽ duy trì và khuyến khích đầu tư của EU vào Trung Quốc, để thúc đẩy nền kinh tế và phát triển công nghệ của Trung Quốc.
Thứ hai, nó sẽ hợp pháp hóa chế độ trong mắt dư luận trong nước và quốc tế (bất chấp hành vi gần đây ở Hồng Kông, Đài Loan, Tân Cương và những nơi khác). Cuối cùng, và có lẽ là quan trọng nhất, CAI có thể ngăn chặn sự phối hợp chính sách về Trung Quốc giữa EU và Hoa Kỳ dưới chính quyền mới của Biden. Sự phối hợp như vậy có thể dẫn đến một mặt trận thống nhất chống lại Trung Quốc và sẽ khó xử lý hơn là giải quyết từng bên riêng lẻ.
Thỏa thuận này đủ quan trọng để ông Tập phải can thiệp cá nhân. Rõ ràng, ông coi đây là một vấn đề chiến lược và cảm thấy rằng thỏa thuận cần được thực hiện trước khi Đức kết thúc nhiệm kỳ Chủ tịch Hội đồng EU và trong thời gian tạm lắng giữa chính quyền Trump và Biden ở Mỹ.
Trung Quốc và EU đã công bố thỏa thuận này vào ngày 30/12, nhưng hai bên vẫn chưa ký thỏa thuận. Ngay cả khi CAI không bao giờ được ký kết - chẳng hạn như do áp lực của Hoa Kỳ dẫn đến việc các nước thành viên EU rút lại sự ủng hộ - hoặc nếu nó không bao giờ được thực hiện, thì Trung Quốc vẫn thắng. Thỏa thuận đã gây tranh cãi trong EU giữa những người ủng hộ và phản đối thỏa thuận, cả trong Nghị viện châu Âu và giữa các quốc gia thành viên. Ba Lan và Ý đã công khai phàn nàn rằng Đức và Pháp đã thúc ép các nước khác thống nhất thỏa thuận này trước cuối năm. Ngoài ra, CAI cũng đã đầu độc mối quan hệ giữa EU và Hoa Kỳ thậm chí trước khi chính quyền Biden bắt đầu.
Tác động đến các mối quan hệ xuyên Đại Tây Dương
Tổng thống Mỹ mới đắc cử Joe Biden đã tuyên bố mong muốn hợp tác chặt chẽ hơn với các đồng minh và đối tác của Hoa Kỳ để đối phó mạnh mẽ hơn với Trung Quốc. Có những giới hạn pháp lý đối với những gì mà chính quyền Biden mới có thể làm trước khi nhậm chức. Trong một dòng tweet vào ngày 22 tháng 12, Jake Sullivan, người được chọn làm cố vấn an ninh quốc gia của Biden, đã thận trọng cảnh báo các nước châu Âu về việc hấp tấp kết thúc đàm phán CAI. Ông đã trích dẫn đường link dẫn đến một bài báo về các cuộc đàm phán và tuyên bố rằng chính quyền sắp tới “sẽ hoan nghênh các cuộc tham vấn sớm với các đối tác châu Âu về những lo ngại chung giữa hai phía đối với các hoạt động kinh tế của Trung Quốc”.
CAI có thể làm suy yếu nỗ lực của chính quyền Biden trong việc đưa Mỹ và EU xích lại gần nhau trong vấn đề về Trung Quốc, vì khi đó, Mỹ không còn tin tưởng vào các đề xuất hợp tác của EU. Nhiều người tham gia vào các cuộc đàm phán thương mại châu Âu đã nhận ra sự thất vọng của châu Âu đối với các cuộc đàm phán “thỏa thuận giai đoạn 1” của Hoa Kỳ và cảm thấy rằng CAI đưa họ lên vị trí ngang hàng hơn với Hoa Kỳ. Phe ủng hộ ‘tự trị chiến lược’ ở châu Âu ủng hộ việc hoàn tất thỏa thuận với Trung Quốc càng sớm càng tốt, thay vì đợi thêm vài tuần cho đến khi chính quyền Biden lên nắm quyền. Mặc dù chính quyền mới của Biden chỉ có toàn quyền sau khi Biden tuyên thệ nhậm chức, nhưng tổng thống mới sẽ cần ưu tiên quan hệ với EU và các đồng minh khác để giúp xây dựng một liên minh các đối tác cùng chí hướng. Bắc Kinh đã khéo léo sử dụng cả CAI và Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện Khu vực để ngăn cản một liên minh trên. Tuy nhiên, Mỹ phải kiên nhẫn vì lợi ích của CAI có thể chỉ tồn tại trong thời gian ngắn nếu Bắc Kinh không thực hiện những lời hứa của họ. Ngoài ra, nhiệm kỳcủa bà Merkel sẽ kết thúc vào tháng 9 năm 2021 và người kế nhiệm của bà có thể có quan điểm cứng rắn hơn đối với Trung Quốc. Các nước thành viên EU khác cũng ngày càng tỏ ra nghi ngờ đối với Trung Quốc.
Chính quyền mới cần phải nhìn toàn cảnh, và hiểu rằng thỏa thuận được mong đợi từ lâu giữa EU với Trung Quốc không nhất thiết sẽ ngăn cản sự hợp tác giữa Hoa Kỳ và EU về vấn đề Trung Quốc trong tương lai. Cú sốc lưỡng đảng ở Hoa Kỳ vào thời điểm EU ký thỏa thuận này cần phải được theo sau bằng thông điệp rõ ràng về mối quan hệ đối tác Hoa Kỳ-EU được đề xuất về Trung Quốc. Làm việc cùng nhau, cả hai có thể tập trung vào việc thực hiện các cam kết thực sự từ Bắc Kinh về tăng cường tiếp cận thị trường, trợ cấp cho các doanh nghiệp nhà nước và tôn trọng sở hữu trí tuệ. Mỹ và EU có thể dẫn đầu một liên minh đa phương mới để cân bằng Trung Quốc trên trường thế giới.
Tiếp theo sẽ là gì?
Hiện tại, hiệp định này cần phải trải qua quá trình “rà soát pháp lý” và được hai bên ký kết trước khi được phê chuẩn và có hiệu lực. Về phía EU, CAI sẽ phải được Nghị viện châu Âu phê chuẩn (không cần quốc hội các nước thành viên EU phê chuẩn). Quá trình này ước tính mất khoảng một năm. Ngoài ra, Trung Quốc và EU tự đặt ra thời hạn hai năm để kết thúc đàm phán về một hiệp định bảo hộ đầu tư bổ sung.
Điều này có nghĩa là EU vẫn cần phải đối xử tử tế nhất có thể đối với Trung Quốc trong vài tháng nếu muốn ký hiệp định, và Trung Quốc có thể sử dụng điều này làm đòn bẩy trong các lĩnh vực chính sách khác. Đầu tiên, EU có thể sẽ không lên án mạnh mẽ bất kỳ hành vi vi phạm nhân quyền nào ở Trung Quốc hoặc bất kỳ hành vi liều lĩnh nào của Trung Quốc ở eo biển Đài Loan hoặc các nơi khác.
Theo tuyên bố báo chí của EU về CAI, “EU sẽ tiếp tục thực hiện chính sách của mình đối với Trung Quốc phù hợp với cách tiếp cận nhiều mặt đã được thông qua tại Hội đồng châu Âu vào ngày 1 và 2/10/2020”. Có ba khía cạnh của cách tiếp cận này: Trung Quốc với tư cách là đối tác, Trung Quốc với tư cách là đối thủ cạnh tranh và Trung Quốc là đối thủ mang tính hệ thống, tùy thuộc vào lĩnh vực chính sách được đề cập. Tuy nhiên, liệu các lĩnh vực chính sách này có thể được tách biệt một cách gọn gàng? Trên thực tế, dường như khó có thể tách biệt hoàn toàn lĩnh vực thương mại và đầu tư, nơi Trung Quốc được coi là đối tác, với lĩnh vực an ninh và các giá trị, nơi Trung Quốc là đối thủ mang tính hệ thống. Liệu EU có thể xử lý Trung Quốc không qua ba khía cạnh khác nhau mà chỉ qua một lăng kính nhất quán duy nhất?
Trong tương lai, EU sẽ cần phải suy nghĩ kỹ hơn về chính sách Trung Quốc của mình. EU cũng được khuyên nên phối hợp cách tiếp cận của mình với Hoa Kỳ. Sự phối hợp như vậy có thể gặp nhiều thách thức hơn dưới thời chính quyền Trump theo chủ nghĩa đơn phương nhưng sẽ dễ dàng và hiệu quả hơn với chính quyền Biden. Một mặt trận thống nhất EU – Hoa Kỳ sẽ có nhiều đòn bẩy hơn đối với Trung Quốc và có thể là chất xúc tác cho một liên minh đa phương rộng lớn hơn giữa các quốc gia cùng chí hướng thúc đẩy pháp quyền và phản đối hành động cưỡng bức kinh tế của Bắc Kinh.
Theresa Fallon là người sáng lập và giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Nga Âu Á (CREAS) ở Brussels và là thành viên cấp cao không thường trú của Hội đồng Chicago về Các vấn đề Toàn cầu. Hiện nay, bà đang nghiên cứu về quan hệ EU-châu Á và sự cạnh tranh giữa các cường quốc.
Nguồn: The Diplomat
Từ khóa: tiếp cận nhiều mặt, tư cách là đối tác, đối thủ cạnh tranh, hệ thống, chủ nghĩa đơn phương
Các tin khác
- Việc Ấn Độ tăng tốc tiếp cận Việt Nam có ý nghĩa gì? - 07/01/2021
- “Thỏa thuận thương mại tự do với Ấn Độ không nằm trong danh sách ưu tiên của Vương quốc Anh hậu Brexit” - 07/01/2021
- Chiến lược 'Mua hàng Mỹ' không giúp nước Mỹ vĩ đại trở lại - 07/01/2021
- Xây dựng thương hiệu quốc gia góp phần nâng cao sức cạnh tranh cho các doanh nghiệp Việt Nam trên thị trường trong nước và quốc tế - 06/01/2021
- Linh hoạt thực thi các hiệp định thương mại tự do theo hướng có lợi nhất - 06/01/2021






















