JSN_TPLFW_TOGGLE_MENU
Phân tích - Bình luậnHội nhập kinh tế quốc tếViệt Nam có đang thao túng tiền tệ?

Việt Nam có đang thao túng tiền tệ?

C3

Bộ Tài chính Hoa Kỳ đang điều tra xem Việt Nam có đang thao túng (phá giá quá mức) đồng tiền của mình hay không. Sở dĩ có cuộc điều tra trên là do thặng dư thương mại của Việt Nam với Hoa Kỳ ngày càng tăng - một biến số được Nhà Trắng hiện nay đặc biệt quan tâm nhưng với phần đông các nhà kinh tế thì không.

Nói đúng hơn, biến số đó là cán cân thương mại tổng thể. Cán cân thương mại của Việt Nam gần như là cân bằng. Ngoại trừ năm 2019 với thặng dư thương mại là 4%, hầu hết các năm còn lại trong thập kỷ qua, cán cân thương mại đều nhỏ hơn 4% hoặc thậm chí âm. Một biến số khác dùng để xác định một quốc gia có thao túng tiền tệ hay không đó là dự trữ ngoại hối. Liệu quỹ dự trữ ngoại hối có đang “cao quá mức” và trong 3–4 tháng qua, dự trữ ngoại hối có nằm trong biên độ dao động thông thường.

Ngoài ra, chúng ta cũng có thể nhìn vào diễn biến của tỷ giá hối đoái để đánh giá. Năm 2010, Việt Nam nhập siêu và tỷ giá hối đoái bình quân là 18.613 đồng/USD. Năm 2019, với mức thặng dư thương mại nhìn chung khiêm tốn, tỷ giá là 23.050 đồng/USD và ít thay đổi trong hầu hết năm 2020.

Biến động của tiền đồng được giải thích nhiều hơn bởi sự chênh lệch lạm phát. GDP của Việt Nam tăng 62% trong giai đoạn 2010 - 2019 trong khi GDP của Hoa Kỳ chỉ tăng 17% trong cùng giai đoạn. Nếu theo mức chêch lệch lạm phát trên, tiền đồng sẽ mất giá 38% và tỷ giá lẽ ra phải hơn 25.000 đồng/USD. Theo lý thuyết kinh tế sức mua, tỷ giá hối đoái phản ánh chênh lệch lạm phát.

Nếu nói Việt Nam đang thao túng tiền tệ, thì có chăng chỉ là đang giữ tiền đồng ở mức quá cao và khiến việc xuất khẩu trở nên khó khăn hơn chứ không phải dễ dàng hơn. Vậy chuyện gì đang xảy ra?

Để đối phó căng thẳng gia tăng với Trung Quốc và thực trạng chi phí lao động ở Trung Quốc đang tăng cao, nhiều công ty đã áp dụng chiến lược 'Trung Quốc + 1' vào đầu thập kỷ trước - thường bằng cách chuyển các nhà máy gia công hàng may mặc, giày dép và điện tử sang Việt Nam. Với cuộc chiến thương mại gần đây hơn do Tổng thống Mỹ Donald Trump châm ngòi, chính lược này đã thay đổi thành chiến lược ‘ABC’ (Anywhere but China - bất kỳ đâu trừ Trung Quốc) và diễn ra rất nhanh chóng.

Điều này đã dẫn đến làn sóng chuyển dịch sản xuất sang Việt Nam. Xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam đã tăng từ 150 tỷ đô la Mỹ năm 2014 lên 264 tỷ đô la Mỹ năm 2019. Việt Nam thậm chí còn tăng trưởng dương trong năm 2020, tăng 2% tính đến tháng 9/2020. Tuy nhiên, nhập khẩu hàng hóa cũng tăng nhanh, từ 148 tỷ USD năm 2014 lên 253 tỷ USD năm 2019 – và giảm nhẹ (0,8%) trong năm 2020. Giá trị gia tăng của hàng hóa xuất khẩu từ khu vực FDI thường rất thấp và vì vậy, phần lớn thặng dư xuất khẩu ‘của Việt Nam’ với Hoa Kỳ phản ảnh nguyên liệu đầu vào nhập khẩu từ các nước còn lại trong châu Á.

Báo cáo của IMF cho thấy, thặng dư tài khoản vãng lai của Việt Nam đã giảm xuống 2,2% GDP vào năm 2019, so với mức 4,9% GDP năm 2014. Cán cân hàng hóa và dịch vụ trong 9 tháng đầu năm 2020 thặng dư 8 tỷ USD. Cả ba yếu tố thặng dư thương mại, cán cân tài khoản vãng lai hoặc dự trữ ngoại hối đều không có dấu hiệu cho thấy sự thao túng tiền tệ đáng kể hoặc ngày càng gia tăng.

Giá trị của các đồng tiền khác - chẳng hạn như đồng euro và đồng nhân dân tệ - cũng rất quan trọng đối với Việt Nam. Đồng đô la mạnh lên trong năm 2019 do lãi suất của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED) đã tăng lên hơn 2% vào cuối năm 2019, so với mức gần bằng 0% giai đoạn trước năm 2016. Trong khi đó, lãi suất của EU và Nhật Bản trong năm 2019 thấp hơn nhiều. Thâm hụt thương mại của Hoa Kỳ với tất cả các nước đã tăng từ 490 tỷ USD năm 2014 lên 617 tỷ USD năm 2019. Việc thuế thu nhập giảm mạnh và toàn dụng lao động ở Hoa Kỳ trong năm 2017 đã làm tăng đường cầu và góp phần làm tăng thâm hụt thương mại. Thâm hụt thương mại tổng thể của Hoa Kỳ phần lớn là do nhu cầu dư thừa và đồng đô la mạnh.

Trọng tâm nên được tập trung vào dòng vốn FDI. Dữ liệu của Ngân hàng Thế giới cho biết dòng vốn FDI ròng của Việt Nam đã tăng lên 16,1 tỷ USD vào năm 2019, từ mức 9,2 tỷ USD trong năm 2014. Phần lớn các khoản đầu tư này là vào khu vực chế xuất, nhưng hoạt động sản xuất của khu vực FDI có giá trị gia tăng thấp. Chẳng hạn như trong một chiến điện thoại thông minh xuất khẩu, yếu tố lao động chiếm 2% giá bán. Một ví dụ nữa là trong mặt hàng chip điện tử, công đoạn lắp ráp chỉ chiếm dưới 10% trong tổng giá thành của một sản phẩm hoàn chỉnh.

Đây là lý do tại sao tài khoản vãng lai gần như cân bằng - nhập khẩu tăng, giá trị gia tăng ít và xuất khẩu trông lớn nhưng chủ yếu phản ánh sản xuất ở những nơi khác. Có khả năng rất nhỏ là Việt Nam có thể sẽ thao túng tiền tệ trong tương lai, nhưng không giống như Trung Quốc, Việt Nam muốn có quan hệ tốt với OECD và Hoa Kỳ. Vì vậy, Việt Nam sẵn sàng hơn trong việc đàm phán về thực tiễn quản lý và giám sát.

Một số yếu tố thúc đẩy xuất khẩu đã đạt đến giới hạn - lực lượng lao động muốn làm việc trong nhà máy phần lớn đã được sử dụng hết, và lực lượng lao động nông nghiệp sẵn sàng chuyển sang làm công nhân nhà máy thì có hạn. Và phần lớn lực lượng lao động nông nghiệp còn lại thì đang già đi. Trong khi đó, số lượng lao động trẻ có trình độ học vấn mặc dù ngày càng tăng nhưng lại không nhắm đến việc làm trong nhà máy.

Điều này có nghĩa là tổng nguồn cung lao động cho các nhà máy có thể dậm chân tại chỗ hoặc thậm chí giảm trong thập kỷ hiện tại. ‘Tội’ lớn của Việt Nam là xuất hiện đúng nơi, đúng lúc và tận dụng được những diễn biến toàn cầu theo hướng có lợi cho mình.

Việt Nam đang mong muốn đầu tư nhiều hơn cho cơ sở hạ tầng. Các thành phố và khu vực nông thôn của Việt Nam cần được đầu tư thêm về hạ tầng giao thông. Việt Nam cũng cần hàng tỷ đô la để nâng cấp mạng lưới điện. Hệ thống cấp thoát nước cũng cần được cải thiện. Các khoản chi tiêu trên không xảy ra ngay lập tức, nhưng sẽ xảy ra. Khi điều đó xảy ra, nhập khẩu sẽ tăng trưởng nhiều hơn xuất khẩu. Thuế quan đang thấp và sẽ còn giảm thêm.

Sự phát triển của robot thông minh giá rẻ cùng công nghệ in 3D cũng có thể làm giảm nhu cầu về lao động ở nước ngoài. Liên hợp quốc ước tính rằng robot có thể thay thế 75–85% lao động trong các ngành lắp ráp điện tử, may mặc và giày dép - tất cả các mặt hàng xuất khẩu chính của Việt Nam. Nếu hoạt động sản xuất hàng xuất khẩu di chuyển đến nơi tiêu thụ chúng, thì nền kinh tế và tiền tệ của Việt Nam sẽ gặp khó khăn.

David Dapice là một nhà kinh tế học cấp cao tại Trung tâm Ash về Quản trị và Đổi mới Dân chủ tại Trường Chính phủ John F Kennedy, Đại học Harvard.

Nguồn: East Asia Forum

Từ khóa: Hoa Kỳ, điều tra, Việt Nam, thao túng tiền tệ

Chuyên mục RCEP

JSN_TPLFW_TOGGLE_MENU

Phân tích - Bình luận

JSN_TPLFW_TOGGLE_MENU

Thư viện hội nhập

thu vien


phong ve thuong mai

Video

Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field

Liên kết

 

Lượt truy cập

008795194
Go to top