
Phá vỡ cái cũ là việc dễ, nhưng để xây dựng một hệ thống mới tốn rất nhiều công sức.
Ngạn ngữ có câu, bất kỳ kẻ ngốc nào cũng có thể phá vỡ một nhà kho, nhưng để xây lại cái mới cần đến cả làng cùng hợp sức. Tương tự, hệ thống thương mại thế giới hiện nay đã bị lung lay bởi Tổng thống Mỹ Donald Trump và bộc lộ những lỗ hổng của nó thông qua đại dịch Covid-19. Giớ đây, cả thế giới sẽ có cơ hội cùng hợp sức để xây dựng nên một hệ thống mới. Nhưng trước khi bắt tay vào việc đó, các nhà phân tích học thuật và nhà làm chính sách nên tập trung nghiên cứu về mô hình tốt nhất cho hệ thống thương mại mới này.
Những gián đoạn do chiến tranh thương mại gây ra khiến cả Hoa Kỳ và Trung Quốc đều bị thiệt hại. Heather Long đã mô tả trên tờ Washington Post rằng: "Kinh tế Mỹ có dấu hiệu tăng trưởng chậm lại, đầu tư kinh doanh đóng băng và các công ty cũng không thuê được nhân viên. Khắp nơi, rất nhiều nông dân phá sản, lĩnh vực sản xuất và vận tải hàng hóa đã xuống mức thấp chưa từng thấy kể từ cuộc suy thoái vừa qua. Các đợt áp thuế của Trump là một trong những đợt tăng thuế lớn nhất trong nhiều năm trở lại đây".
Một nghiên cứu của Viện Brookings đã đi đến kết luận tổng thể là chiến tranh thương mại gây ra "mất nhiều hơn được", dựa trên số liệu sau: "Một nghiên cứu vào tháng 9 năm 2019 của Moody's Analytics cho thấy cuộc chiến thương mại đã khiến nền kinh tế Mỹ thiệt hại ước tính khoảng 0,3% GDP thực tế, mất gần gần 300.000 việc làm. Các nghiên cứu khác còn đưa ra ước tính là khoảng 0,7%. Một báo cáo năm 2019 từ Bloomberg Economics ước tính rằng cuộc chiến thương mại sẽ khiến nền kinh tế Mỹ thiệt hại 316 tỷ đô la vào cuối năm 2020. Các công ty Mỹ phải trả phí cho các loại thuế quan, ước tính gần 46 tỷ đô la. Các mức thuế đơn phương của Trump đối với Trung Quốc đã làm chệch hướng dòng chảy thương mại khỏi Trung Quốc, khiến thâm hụt thương mại của Mỹ với châu Âu, Mexico, Nhật Bản, Hàn Quốc và Đài Loan tăng lên". Tuy nhiên, báo cáo của Brookings không cung cấp dữ liệu về những thiệt hại mà cuộc chiến thương mại gây ra cho Trung Quốc.
Trong những năm tiếp theo, các doanh nghiệp Mỹ sẽ gặp bất lợi vì càng bị đóng cửa, hạn chế tiếp cận với thị trường Trung Quốc, và có khả năng họ sẽ gây áp lực lên vị tổng thống tương lai của Nhà Trắng, bất kể đó là ai, để đạt được thỏa thuận với Trung Quốc. Một báo cáo gần đây của Fortune cho hay: "Không một doanh nghiệp nào muốn từ bỏ một thị trường với một tỷ người tiêu dùng. Ngoài ra, có rất ít công ty muốn loại bỏ hoàn toàn Trung Quốc khỏi chuỗi cung ứng của họ. Chiến tranh thương mại và hậu đại dịch COVID đã buộc các công ty phải thừa nhận rằng họ quá phụ thuộc vào các nhà cung cấp Trung Quốc, và rằng các công ty Trung Quốc thường có kiến thức chuyên môn về sản xuất mà không thể tìm thấy ở nơi khác”. Xét theo mọi khía cạnh, Trung Quốc là thị trường lớn nhất thế giới về số lượng sản phẩm và dịch vụ ngày càng tăng.
Hiện nay, Trung Quốc tiếp tục dựng lên nhiều rào cản khác nhau để ngăn công dân của mình truy cập website. Gần đây, trên thực tế, Hoa Kỳ cũng đang thúc đẩy “chủ nghĩa dân tộc thuần túy”, tìm cách hạn chế quyền truy cập của người Mỹ vào các phương tiện truyền thông xã hội Trung Quốc, chẳng hạn như TikTok và WeChat. Những động thái này của cả hai bên làm suy yếu các phương tiện giao tiếp quốc tế, luồng thông tin tự do và chia sẻ ý tưởng. Tác dụng phụ của việc làm này là khiến Trung Quốc ngày càng dễ dàng áp đặt chế độ độc tài của mình.
Sau bầu cử, mọi thứ sẽ như thế nào? Kịch bản tồi tệ nhất là Hoa Kỳ mở rộng các chính sách hiện thời của Chính quyền Trump, đó là Hoa Kỳ ngày càng rút khỏi thế giới và tìm cách tự cung tự cấp. Trump đã vận động tranh cử với lời hứa khôi phục cơ sở công nghiệp của Hoa Kỳ bằng cách mang lại các công việc sản xuất đã chuyển ra nước ngoài. Trump cũng gây áp lực buộc các tập đoàn Mỹ phải dời trụ sở chính về lại Mỹ và mang các khoản đầu tư về nước; kêu gọi người Mỹ mua các sản phẩm của Mỹ. Bên cạnh đó, ông cũng tìm cách gây áp lực buộc các công ty Mỹ không bán chip cho các công ty Trung Quốc hoặc sử dụng thiết bị do Trung Quốc sản xuất. Đại dịch càng tạo cho Hoa Kỳ động lực mới mạnh mẽ để thúc đẩy các chính sách trên, nhất là khi nước này phát hiện ra mức độ phụ thuộc của mình vào Trung Quốc đối với các thiết bị y tế cơ bản và các thành phần sản xuất thuốc.
Tờ Wall Street Journal gần đây đã đưa ra nhận xét: "Trong nhiều thập kỷ, các nhà lãnh đạo Trung Quốc đi theo chính sách thu hút FDI và đẩy mạnh xuất khẩu để tạo sức mạnh cho nền kinh tế Trung Quốc. Giờ đây, với tình hình thế giới đang suy thoái và căng thẳng Mỹ-Trung ngày càng sâu sắc, Chủ tịch Tập Cận Bình đang đưa ra một sáng kiến lớn để thúc đẩy sự chuyển dịch của Trung Quốc sang hướng nâng cao năng lực tự sản xuất của nền kinh tế trong nước".
Tuy nhiên, chi phí các quốc gia phải bỏ ra nếu muốn chuyển dịch sản xuất về trong nước thường rất cao. Điều này không có nghĩa là các bên phải lựa chọn giữa các chủ nghĩa. Chúng ta phải bỏ tư duy cần phải lựa chọn một trong hai, và nhận ra rằng chúng ta có thể thực hiện song song nhiều hướng. Một số lĩnh vực nhất định sẽ không có khả năng tăng tỷ lệ tự cung tự cấp. Tuy nhiên, những nỗ lực này không bao giờ ngừng lại. Hoa Kỳ và các quốc gia khác từ lâu đã muốn bảo vệ nông dân của họ khỏi sự cạnh tranh quốc tế để đảm bảo an ninh lương thực. Hoa Kỳ nằm trong số nhiều quốc gia hạn chế xuất khẩu các mặt hàng mà việc tiếp thị ra nước ngoài có thể làm suy yếu an ninh quốc gia. Sau đại dịch, Hoa Kỳ cần đảm bảo rằng họ đã chuẩn bị tốt để đối mặt với những thảm họa tương tự trong tương lai. Nhìn chung, thương mại tự do sẽ mang lại lợi ích to lớn cho người tiêu dùng của tất cả các quốc gia có liên quan và việc sử dụng các hạn chế thương mại cho các mục đích địa chính trị hiếm khi mang lại hiệu quả mong muốn, đặc biệt là khi giao dịch với các quốc gia có quy mô như Trung Quốc.
Tiếp theo, Hoa Kỳ cần dẫn dắt nhiều quốc gia hình thành một khu vực thương mại tự do hơn. Chính quyền Bush và Obama đã thực hiện theo hướng này khi khởi xướng và dẫn đầu đàm phán Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP). Hiện tại, hiệp định này đổi tên thành CPTPP, chỉ còn bao gồm 11 quốc gia (Úc, Brunei, Canada, Chile, Nhật Bản, Malaysia, Mexico, New Zealand, Peru, Singapore và Việt Nam). Chính quyền Trump đã rút khỏi TPP, nhưng vẫn biểu lộ thái độ ủng hộ đối với một liên minh Ấn Độ - Thái Bình Dương. Sự can thiệp mạnh tay của Trung Quốc vào Australia và xung đột biên giới giữa Ấn Độ - Trung Quốc đã khiến các quốc gia này bày tỏ sự quan tâm đến một liên minh như vậy. Tuy nhiên, hết lần này đến lần khác, sức hấp dẫn mạnh mẽ của thị trường Trung Quốc và khả năng đầu tư lớn ra nước ngoài đã khiến nhiều nước - bao gồm cả EU - cố gắng duy trì quan hệ kinh tế với Trung Quốc.
Các lý do về mặt kinh tế để ủng hộ thương mại tự do thì vượt trội hơn các lý do về địa chính trị để từ bỏ thương mại tự do. Điều này có nghĩa là, nếu Mỹ và các đồng minh của họ coi Trung Quốc có thể trở thành bá chủ toàn cầu, thay thế Mỹ trở thành siêu cường duy nhất và áp đặt các quy tắc riêng của mình đối với trật tự thế giới, thì sự phân hóa kinh tế toàn cầu có thể sẽ tiếp diễn. Tuy nhiên, nếu Trung Quốc chỉ đang tìm cách tăng cường vai trò trong phạm vi ảnh hưởng của chính họ và đảm bảo dòng nguyên liệu thô hay năng lượng phụ thuộc vào sự tồn tại của họ, thì thương mại toàn cầu tự do vẫn còn cơ hội.
Trước đây, việc Trung Quốc vi phạm quyền sở hữu trí tuệ là một trở ngại lớn cho thương mại tự do hơn. Tuy nhiên, có ba yếu tố cần được xem xét trong bối cảnh này. Một là, trước đây, trong các cuộc đàm phán thương mại Trung Quốc có cam kết bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, và sau đó chính phủ của họ cũng đã thực hiện một số yêu cầu sửa đổi. Thứ hai, khi Trung Quốc ngày càng tạo ra những đột phá về công nghệ của riêng mình, nước này cũng có thể trở nên quan tâm hơn đến việc bảo vệ các loại quyền sở hữu này. Cuối cùng, Hoa Kỳ có thể tham gia cùng với tất cả các quốc gia công nghiệp lớn khác, dẫn đầu là Pháp, sử dụng các cơ quan tình báo của họ để giúp bảo vệ quyền tài sản của doanh nghiệp, san bằng lợi thế trên sân chơi.
Nhánh thứ ba đòi hỏi sự hợp tác quốc tế giữa các nhà khoa học đang nghiên cứu tìm thuốc điều trị COVID-19 và tạo ra vắc xin. Các nhà khoa học Trung Quốc đã công bố bộ gen của COVID-19 trên một nền tảng mở. Hoa Kỳ và các quốc gia khác nên hiểu rằng, chúng ta không biết quốc gia nào sẽ là quốc gia đầu tiên chế ra một loại vắc-xin khả thi. Do đó, tất cả các quốc gia liên quan nên tập hợp các nguồn lực để cùng phát triển vắc-xin và đồng ý phân phối công bằng các loại vắc-xin đầu tiên an toàn và hiệu quả trên toàn thế giới.
Trong bối cảnh khủng hoảng, các quốc gia có xu hướng sẽ chuẩn bị các kịch bản trong trường hợp đối mặt với với những thảm họa tương tự trong tương lai. Sau vụ 11/9, Mỹ đã dành 10 năm ưu tiên cao độ tránh một cuộc tấn công khủng bố lớn khác. Do đó, cả Hoa Kỳ lẫn Trung Quốc đều sẽ có xu hướng chuẩn bị cho đại dịch. Tuy nhiên, cuộc khủng hoảng lớn tiếp theo liên quan đến khí hậu đã xảy ra. Sự hợp tác là điều cần thiết ở đây; nếu không, mọi nỗ lực riêng lẻ của các quốc gia đều có khả năng trở nên vô nghĩa nếu vai trò của họ không được thế giới công nhận. Hơn nữa, nhiều chính sách môi trường phải trả chi phí rất cao, đôi khi liên quan tới cả chính trị. Do đó, một phần chính của nỗ lực giảm thiểu khủng hoảng khí hậu sẽ thông qua các chính sách giảm phát thải các-bon. Những chính sách này tốn rất ít chi phí chính trị. Các giải pháp công nghệ liên quan thường dễ dàng nhận được tài trợ và hợp tác R&D quốc tế. Cuối cùng, tất cả các bên nên tăng cường việc khuyến khích sử dụng các hệ thống điện mặt trời bởi vì công nghệ này đóng một vai trò quan trọng trong việc đối phó với biến đổi khí hậu và mang lại lợi ích cho thế giới trong tương lai.
Tóm lại, hệ thống kinh tế toàn cầu trong tương lai có thể là sự kết hợp của:
(a) chính sách công nghiệp nhằm giảm bớt sự phụ thuộc vào các cường quốc nước ngoài trong bối cảnh khủng hoảng;
(b) Hợp tác Đông-Tây về các phát triển khoa học cụ thể, đặc biệt liên quan đến Covid-19 và biến đổi khí hậu; và
(c) thương mại tự do hơn, nhất là liên minh Ấn Độ - Thái Bình Dương hoặc tốt nhất là trong một hệ thống mở gồm nhiều quốc gia, bao gồm cả Trung Quốc.
Nguồn: The Diplomat
Từ khóa: hệ thống thương mại toàn cầu mới, Mỹ- Trung
Các tin khác
- Kiểm soát chặt chẽ hoạt động xuất, nhập khẩu khoáng sản - 06/10/2020
- Trung Quốc và Nhật Bản nên nên nâng cấp thỏa thuận đầu tư song phương - 06/10/2020
- “Yếu tố thị trường đặc biệt [1]” - công cụ mới của các cơ quan điều tra trong các vụ việc điều tra chống bán phá giá - 05/10/2020
- Chuỗi cung ứng đang được rút ngắn lại, doanh nghiệp Việt đừng bỏ lỡ - 05/10/2020
- Tiêu chí nào cho “made in Việt Nam”?: Xuất xứ theo các FTA - 05/10/2020






















