JSN_TPLFW_TOGGLE_MENU
Phân tích - Bình luậnHội nhập kinh tế quốc tếLiệu chúng ta đang tiến đến một cuộc chiến thương mại trong vấn đề biến đổi khí hậu?

Liệu chúng ta đang tiến đến một cuộc chiến thương mại trong vấn đề biến đổi khí hậu?

thepvietnam0907

*Thuế carbon là một loại thuế môi trường, đánh trên hoạt động sản xuất/kinh doanh trong nước thải ra nhiều carbon, gây biến đối khí hậu. Còn thuế carbon biên giới là thuế đánh trên hàng hóa nhập khẩu từ những nước không đánh thuế carbon. 

Các nước có thể áp thuế carbon biên giới đối với hàng hóa nhập khẩu từ các quốc gia không thực hiện đánh thuế trong nước đối với hoạt động phát sinh ô nhiễm. Lợi nhuận thu được từ việc áp thuế carbon biên giới trên có thể được sử dụng để tài trợ cho những dự án về môi trường, năng lượng tái tạo, gây quỹ cho các sáng kiến khí hậu của Liên Hợp Quốc hay hỗ trợ nhiều nghiên cứu khoa học về công nghệ phát thải ít carbon.

Hoa Kỳ có khả năng cao sẽ trở thành đối tượng phải chịu thuế carbon biên giới, trong bối cảnh nước này đã rút khỏi Thỏa thuận Paris về biến đổi khí hậu, cộng thêm quy mô kinh tế lớn, và việc nước này đơn phương áp thuế nhập khẩu lên Trung Quốc và EU.

Khi cuộc chiến thương mại xung quanh mặt hàng nhôm thép giữa Mỹ và Trung Quốc, châu Âu cùng các đối tác thương mại lớn khác đang hiển hiện, biến đổi khí hậu có nguy cơ trở thành một hình thức chiến tranh thương mại mới. Khi Tổng thống Trump tuyên bố từ bỏ Thỏa thuận Paris, điều này đồng nghĩa xứ sở cờ hoa là đất nước duy nhất không là tham gia Hiệp định.

Gần đây, Tổng thống Pháp Macron phát biểu rằng, EU không ngờ nghệch đến nổi đi ký kết một thỏa thuận thương mại tự do với một quốc gia chối bỏ Hiệp định về khí hậu lớn nhất hành tinh như Hoa Kỳ. Trong các cuộc hội đàm về khí hậu quốc tế vào năm ngoái, Ông Macron cũng ngụ ý rằng châu châu Âu sẽ cân nhắc áp thuế carbon biên giới để bảo vệ ngành công nghiệp nội địa trong bối cảnh một số nước xuất khẩu không thu loại phí này đối với hàng hóa của họ.

Ý tưởng về thuế carbon biên giới hay chi phí chuyển đổi hải quan đã được bàn thảo trong thời gian dài tuy vậy chỉ đến khi Hoa Kỳ rút khỏi Thỏa thuận Paris, vấn đề chiến tranh thương mại liên quan đến biến đổi khí hậu mới được coi là một nguy cơ hiện hữu.

Điểm đặc biệt duy nhất của Thỏa thuận khí hậu lớn nhất thế giới chính là mỗi nước tự đặt ra cam kết về giảm phát thải của riêng mình; điều này phản ánh nhận thức chung của cộng đồng quốc tế về mối nguy hiện hữu và cấp thiết mà biến đổi khí hậu đang tạo ra và tất cả quốc gia vùng lãnh thổ phải có trách nhiệm giải quyết sự đe dọa này. Cách tiếp cận trong thỏa thuận Paris khác biệt rất lớn so với cách tiếp cận tuần tự và phân chia trách nhiệm dựa trên trình độ phát triển của mỗi nước như trong Nghị định thư Kyoto-chính sách quốc tế điều chỉnh về vấn đề khí hậu trong suốt 20 năm qua.

Cũng theo thỏa thuận Paris, khi một một quốc gia phê chuẩn thỏa thuận, sẽ không có bất kỳ cơ chế giải quyết tranh chấp hay trừng phạt nào áp đặt lên nước này mặc cho cách thức mà họ áp dụng để giải quyết vấn đề biến đổi khí hậu như thế nào chăng nữa. Tuy nhiên, khi Mỹ không còn là bên tham gia thỏa thuận môi trường lớn nhất hành tinh, nhiều nước và tổ chức dân sự xã hội cũng đột ngột nhận ra Hoa Kỳ có thể bị biến thành một bên tranh chấp trong những tranh cãi thương mại về biến đổi khí hậu.

Vậy cách thức nào để đánh thuế carbon biên giới hay áp dụng chi phí chuyển đổi đối với Hoa Kỳ và những nước khác? Cách dễ nhất cho các chính trị gia tiến hành thu thuế chính là áp lên hàng hóa xuất khẩu có nguồn gốc từ các quốc gia không thu phí carbon đối với hành vi gây ô nhiễm trong chính quốc. Tuy vậy, biện pháp nêu trên có thể gây ra tranh cãi và khá nhạy cảm do nước áp thuế quan phải xem xét đến những biện pháp khác mà quốc gia xuất hàng hóa đang thực hiện cũng có tác động tương đương với việc thu thuế carbon.

Theo Ngân hàng thế giới, hơn 40 quốc gia và vùng lãnh thổ đã tiến hành đánh thuế carbon nội địa. Hình thức thuế này có thể được áp dụng thông qua hệ thống mua bán phát thải (ETS) hay thu thuế trực tiếp. Tất cả các nước thành viên Liên minh châu Âu, cùng với Thụy Sỹ, Na Uy, Hàn Quốc, Colombia, Chile, Mexico, và gần đây nhất là Trung Quốc đều đã thu phí carbon. Vào tháng 12/2017, Trung Quốc đã thiết lập một hệ thống ETS lớn nhất thế giới mà khi được triển khai đầy đủ có thể tác động đến hơn 4 tỷ tấn carbon phát thải của nước này, Ngược lại, mục tiêu của EU chỉ là thu phí 2 tỷ tấn phát thải mỗi năm. Hệ thống ETS của nền kinh tế lớn thứ hai thế giới nhắm đến lĩnh vực điện lực trước tiên, sau đó sẽ mở rộng đến các ngành sử dụng nhiều năng lượng khác như dầu hỏa, khí đốt, hóa chất và xi-măng. Chính phủ đất nước hơn 1 tỷ dân rất quyết tâm giảm phát thải thông qua triển khai ETS như cách thức để đảm bảo an ninh năng lượng và ổn định chính trị.

Chính sách tính phí carbon đã được thực hiện tại vùng Quebec, Ontario, Alberta, British Colombia của Canada, các bang California, 10 thành phố tại New England và vùng Đông Bắc, bao gồm New York-Hoa Kỳ; đồng thời, phí carbon đã tác động đến 50% hệ thống kinh tế toàn cầu. Mỹ, Brazil, Nga, và Ấn Độ là những nước chưa thực hiện thu phí carbon; tuy vậy, những quốc gia vừa nêu đang thảo luận cách thức để tiến hành việc này với sự giúp đỡ của Ngân hàng thế giới và các sáng kiến khí hậu toàn cầu.

Chính phủ các nước có thể ban hành quy định đánh thuế hàng nhập khẩu (ví dụ như thu phí chuyển đổi carbon biên giới) từ những quốc gia không thực hiện áp loại phí này. Lợi nhuận thu được từ phí có thể dùng trang trải cho các dự án về môi trường, năng lượng tái tạo, cung cấp tài chính cho các sáng kiến khí hậu của Liên Hợp Quốc hoặc đầu tư vào nghiên cứu công nghệ phát thải ít carbon.

Hoa Kỳ được coi là đối tượng chính yếu nhất nằm trong tầm ngắm áp thuế carbon biên giới của nhiều chính phủ các quốc gia khác do quy mô kinh tế của nước này, cũng như được xem là hành động trả đũa trước việc chính quyền Trump áp thuế lên hàng hóa nhập khẩu từ Trung Quốc và EU. Nga cũng có thể là đối tượng mới trong cuộc tranh chấp thương mại xoay quanh vấn đề biến đổi khí hậu. Trước khi tham gia vào Thảo thuận Paris, xứ sở bạch dương đã tự đặt ra mục tiêu giảm phát thải của riêng mình, theo đó Nga có thể tự cho phép nền kinh tế nước này tiếp tục tăng phát thải đến tận năm 2030. Bên cạnh đó, chính phủ các nước châu Âu cũng có thể đánh thuế carbon biên giới lên dầu mỏ và khí ga nhập từ Nga như biện pháp trả đũa hành động bảo trợ tấn công mạng của quốc gia có diện tích lớn nhất thế giới.

Rõ ràng là việc áp dụng thuế carbon biên giới có thể tạo ra căng thẳng ngoại giao lớn cũng như tạo phản ứng ngược đối với quốc gia nhập khẩu khi giá hàng hóa tăng cao. Hoa Kỳ và Nga có thể dễ dàng áp dụng biện pháp trả đũa với những nước áp thuế carbon lên hàng hóa xuất khẩu của họ; hoặc hai cường quốc có thể ra tiến hành trước việc đánh thuế carbon trong nước với thuế suất cực thấp để ngăn chặn trước bất đồng; tuy nhiên việc áp dụng phương pháp nào còn thuộc vào phí carbon mà quốc gia nhập khẩu sẽ áp dụng. Điều này không có quá nhiều ý nghĩa để giữ ổn định cho hoạt động thương mại cũng như bảo vệ môi trường Trái đất. Nếu Tổng thống Mỹ quyết định tuân thủ cam kết mà Hoa Kỳ đã đưa ra trong Thỏa thuận Paris thay vì từ bỏ nó, rất có thể xứ sở cờ hoa đã có thể tránh được một cuộc tranh chấp thương mại ngay từ ban đầu.

Nguồn: UCTSD - LA

Từ khóa: Mỹ, Trung Quốc, biến đổi khí hậu, thuế carbon

Chuyên mục RCEP

JSN_TPLFW_TOGGLE_MENU

Phân tích - Bình luận

JSN_TPLFW_TOGGLE_MENU

Thư viện hội nhập

thu vien


phong ve thuong mai

Video

Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field

Liên kết

 

Lượt truy cập

008790963
Go to top