
Khi các vòng đàm phán về Hiệp định Thương mại Tự do Bắc Mỹ (NAFTA) đang diễn ra, nhiều đề xuất của các nước dường như đang đi ngược lại với mục tiêu hiện đại hóa Hiệp định, và một vài nhóm ngành công nghiệp đang lợi dụng cơ hội này để đẩy mạnh chương trình bảo hộ của họ.
Gần đây, xuất hiện một bài bình luận của Mike Schultz, Phó chủ tịch R-CALF Mỹ kiêm Chủ tịch COOL, và Martin Rosas, Chủ tịch Công đoàn Thực phẩm và Thương (UFCW) ở Thành phố Kansas. Trong bài báo, hai tác giả lập luận về việc Mỹ phục hồi lại điều luật COOL (country of origin labeling) - yêu cầu các sản phẩm từ thịt phải dán nhãn chứng nhận xuất xứ quốc gia. Những người ủng hộ chương trình dán nhãn này lý giải rằng, việc dán nhãn sẽ giúp cung cấp thêm thông tin về sản phẩm đến người tiêu dùng, và người tiêu dùng sẽ sẵn lòng trả nhiều tiền hơn cho dạng thông tin này. Ngoài ra, những người ủng hộ có xu hướng cho rằng NAFTA tổn hại đến ngành công nghiệp thịt bò của Mỹ. Tuy nhiên, tất cả những lập luận này đều không chính xác.
Đầu tiên, điều luật COOL, được thiết lập bởi Mỹ vào năm 2008, là một tập hợp phức tạp những yêu cầu về trưng bày, quy định một miếng thịt cắt khúc phải được dán nhãn để xác định nơi sản phẩm được “sinh ra, nuôi dưỡng và giết mổ”. Trên bề mặt, quy định này dường như khá tử tế, nhưng cách mà quy định này được xây dựng đã khiến các doanh nghiệp sản xuất thịt của Hoa Kỳ không mấy mặn mà trong việc truy tìm nguồn gốc thịt nhập khẩu, bởi vì chi phí để truy xuất trong từng công đoạn của quy trình sản xuất, bao gồm cách ly các đàn gia súc không cùng quốc tịch, là rất lớn.
Truy xuất “quốc tịch” của một miếng thịt là việc cực kỳ phức tạp, với lí do là, có rất nhiều giao dịch mua đi bán lại sản phẩm thịt bò giữa ba nước Canada, Mexico và Hoa Kỳ. Ngoài ra, còn có thêm những rào cản phụ gây khó cho việc truy xuất, như hiện tượng Alaska và Hawaii trung chuyển gia súc qua Canada để nhập vào thị trường Mỹ, nhằm tránh chi phí thuê tàu đắt đỏ theo Đạo luật Jones.
Hơn nữa, không có bằng chứng cho thấy người tiêu dùng sẽ sẵn lòng bỏ tiền thêm cho việc dán nhãn xuất xứ quốc gia. Một nghiên cứu năm 2013 của Tạp chí Kinh tế học Nông nghiệp và Tài nguyên đã đi đến kết luận là, “thiếu vắng sự gia tăng trong nhu cầu của người tiêu dùng Mỹ” đối với các sản phẩm có dán nhãn theo chương trình COOL, và đồng thời đề xuất, “bất kỳ nỗ lực nào nhằm duy trì COOL sẽ dẫn đến thiệt hại cho tổng phúc lợi xã hội, không chỉ cho Mỹ, mà còn cho các đối tác thương mại”. Ngoài ra, một báo cáo hồi năm 2004 của Bộ Nông nghiệp Mỹ cũng cho thấy “tình trạng thưa thớt các sản phẩm lương thực có dán nhãn “Made in USA” chứng tỏ nhà cung cấp không tin tưởng rằng, nguồn gốc nội địa là một đặc điểm có thể thu hút sự quan tâm của người tiêu dùng”.
Và cuối cùng, những người ủng hộ biện pháp bảo hộ này đôi khi tuyên bố rằng NAFTA làm tổn thương ngành công nghiệp thịt bò của Mỹ. Quan điểm này thật sai lầm. Trước tiên, các rào cản trong giao dịch thịt bò và thịt gia súc từ lâu nay đã rất thấp, trước cả khi NAFTA xuất hiện. Thứ hai, trong khi Canada là một nhà cung cấp hàng đầu về thịt bò cho Mỹ, Canada chỉ chiếm 18.6% trong tổng thị phần nhập khẩu, và chỉ chiếm 2.5% trong tổng lượng tiêu thụ thịt bò và thịt bê tại Mỹ. Thứ ba, ngành công nghiệp thịt bò của Mỹ thật ra đang ăn nên làm ra, và còn được kỳ vọng tăng trưởng vào năm 2018. Trong năm 2016, Mỹ là nước sản xuất thịt bò và thịt bê nhiều nhất thế giới, với tổng sản lượng là 11,507 ngàn tấn và Brazil đứng ở vị trí thứ hai với sản lượng 9,284 ngàn tấn. Nhưng một lưu ý quan trọng là, Mỹ cũng đồng thời là quốc gia nhập khẩu thịt bò và thịt bê nhiều nhất thế giới, bởi vì đây là nước tiêu thụ hàng đầu về hai sản phẩm trên. Người Mỹ rất thịt ăn bò, vì vậy, họ cần nhập thịt bò từ nước ngoài để đáp ứng nhu cầu trong nước.
Vấn đề dán nhãn xuất xứ quốc gia của Mỹ đã bị hai nước Canada và Mexico kiện lên Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO). Hồi tháng 11/2011, ban hội thẩm của WTO đưa ra phát quyết rằng, biện pháp dán nhãn COOL của Mỹ là vi phạm cam kết, bởi vì thể hiện sự phân biệt đối xử đối với các sản phẩm thị gia súc nhập khẩu. Bản án này đã được Mỹ kháng cao. Quốc hội nước này cuối cùng đã bãi bỏ quy định COOL hồi tháng 12/2015 thông qua luật ngân sách bổ sung. Giờ này, yêu cầu khôi phục lại quy định này chắc chắn sẽ dẫn đến một tranh chấp khác, và cũng sẽ lại làm xáo trộn thị trường thịt bò và thịt gia súc một lần nữa. Sử dụng đàm phán NAFTA để tranh thủ sự ủng hộ cho điều luật này cũng đồng thời đi ngược lại thực trạng giao dịch thịt bò và thịt gia súc ở thị trường Bắc Mỹ. Quốc hội không nên cho phép mình trở thành nạn nhân cho dạng bảo hộ bằng luật pháp này thêm một lần nào nữa.
Nguồn: Cato Institute – TQ
Từ khóa: NAFTA, dán nhãn, xuất xứ quốc gia, COOL, nông nghiệp, thịt bò
Các tin khác
- EU: Lời giải nào cho bài toán bất bình đẳng kinh tế? - 20/10/2017
- Nguy cơ "gậy ông đập lưng ông" trong chủ trương thương mại của chính quyền Trump - 20/10/2017
- Không có TPP, hàng xuất khẩu Việt Nam có cơ hội nào khi vào Mỹ? - 20/10/2017
- Không có công thức chung cho cạnh tranh - 20/10/2017
- Những “gã khổng lồ” xuất hiện khi rào cản thương mại gia tăng - 19/10/2017






















