
Mặc dù tâm lý chống toàn cầu hóa gia tăng có thể xuất hiện trước đại dịch Covid-19, nhưng đại dịch đã củng cố điều đó, dẫn đến gia tăng chủ nghĩa bảo hộ ở Đông Á và khắp nơi trên thế giới. Nhiều rào cản thời đại dịch đối với khả năng di chuyển lao động đã giảm dần ở một số quốc gia, vẫn chưa đảo ngược hoàn toàn.
Chính sách công nghiệp đã trở nên phổ biến trở lại ở Hoa Kỳ, với việc ban hành Đạo luật giảm phát và Đạo luật CHIPS và Khoa học vào tháng 8-2022, do nhu cầu đẩy nhanh quá trình chuyển đổi năng lượng sạch và giảm thiểu những lo ngại về địa chính trị do giảm phụ thuộc vào Trung Quốc.
Các khoảng trợ cấp liên quan đến các yêu cầu nội dung trong nước trong các quy chế này đã làm thay đổi mô hình tìm nguồn cung ứng, trong khi các hạn chế về xuất khẩu vi mạch tiên tiến sang các công ty Trung Quốc đã ảnh hưởng trực tiếp thương mại. Bản cập nhật Đông Á tháng 10-2023 của Ngân hàng Thế giới đo lường những luật này đã làm giảm xuất khẩu của Trung Quốc và ASEAN đến Mỹ và gia tăng xuất khẩu từ Mexico và Canada như thế nào.
Ảnh hưởng trực tiếp của chính sách công nghiệp Mỹ vượt qua biên giới bằng cách cung cấp ưu đãi cho các đối tác FTA và phân biệt đối xử với các đối tác khác. Nó cũng có thể ảnh hưởng lan tràn bằng cách góp phần tạo ra nhu cầu ngày càng tăng đối với các chính sách tương tự ở Đông Á và khắp nơi trên thế giới, đặc biệt là châu Âu. Trò chơi chính trị có thể áp dụng cho các khoản trợ cấp và công cụ bảo hộ khác khi các quốc gia cố gắng cạnh tranh trên một sân chơi ngày càng không công bằng.
Đối với một số quốc gia, những diễn biến này là báo hiệu kết thúc của mô hình tăng trưởng dựa vào xuất khẩu. Trong khi tăng trưởng thương mại ở Đông Á đạt trung bình hơn 8% trong những năm dẫn đầu cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008, tốc độ này dự kiến sẽ giảm xuống còn 4.4% trong những năm hậu đại dịch.
Trong lúc việc đa dạng hóa các mô hình thương mại sẽ làm tăng khả năng phục hồi của dòng chảy thương mại và tính bền vững của mô hình dựa vào xuất khẩu, tốc độ tăng trưởng thương mại khu vực giảm liên tục trong hai thập kỷ qua là nguyên nhân gây quan ngại. Chuỗi cung ứng rút ngắn lại và hoạt động reshoring do chính sách gây ra đã diễn ra. Nhưng sự suy thoái chủ yếu ảnh hưởng đến hàng hóa hơn là thương mại dịch vụ. Có tiềm năng rất lớn cho tăng trưởng trong thương mại dịch vụ, đặc biệt là dịch vụ trung gian, với việc số hóa giúp giảm bớt các rào cản hơn nữa.
Điều này khiến một số nhà bình luận khẳng định toàn cầu hóa là không chết chỉ đơn giản là chuyển đổi. Tương tự, nếu các mô hình cũ dựa vào xuất khẩu đã chết hoặc đang hấp hối thì nó có thể được thay thế một trong những mô hình mà trong đó thành phần và mô hình thương mại thay đổi nhưng vai trò hoặc tầm quan trọng không thay đổi. Cơ cấu sẽ dịch chuyển từ hàng hóa đến dịch vụ trong khi mô hình thương mại sẽ ít được xác định bởi tính hiệu quả mà nhiều hơn bởi các yếu tố địa chính trị.
Tăng trưởng nhanh chóng trong thương mại kỹ thuật số có liên quan đến sự dịch chuyển cơ cấu sang dịch vụ. Số hóa làm tăng quy mô, phạm vi và tốc độ của thương mại và sẽ ảnh hưởng đến việc đánh giá khả năng tồn tài của mô hình dựa vào xuất khẩu ít nhất theo ba cách.
Thứ nhất, hàng hóa và dịch vụ kỹ thuật số có khả năng chiếm phần lớn sự tăng trưởng thương mại trong tương lai, trong khi số hóa sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho tăng trưởng thương mại dịch vụ tương lai. Thứ hai, số liệu thống kê được báo cáo dựa trên thương mại có thể đánh giá thấp khối lượng thật sự của thương mại kỹ thuật số, do có nhiều khó khăn trong việc đo lường. Thứ ba, nhiều rào cản đã cản trở thương mại hàng hóa trong các quốc gia đã phát triển không áp dụng thương mại dịch vụ. trong khi việc tăng cường số hóa giúp nâng cao khả năng của thương nhân đối với việc vượt qua các rào cản bảo hộ.
Mô hình dựa vào xuất khẩu khó có thể sớm bị khai trừ. Mặc dù thay đổi theo hướng áp dụng chính sách công nghiệp có thể không chỉ là hiện tượng nhất thời ở Mỹ, nhưng thực tế là chính sách thương mại dựa trên an ninh của Washington thiên về việc ủng hộ friend-shoring và near-shoring hơn là reshoring, ngụ ý một sự thay đổi mô hình hơn khối lượng của thương mại.
Các chính sách như vậy cho đến nay đã tạo điều kiện thuận lợi cho các quốc gia có hiệp định thương mại tự do (FTA) với Mỹ, gây bất lợi cho Trung Quốc và các quốc gia thành viên ASEAN. Nhưng điều này có thể thay đổi nếu nỗ lực của các quốc gia ASEAN như Indonesia và Philippines ký kết các FTA hạn chế với Mỹ về khoáng sản quan trọng thành hiện thực.
Tương tự, tăng trưởng nhanh chóng trong thương mại kỹ thuật số đang làm thay đổi cơ cấu sản phẩm của thương mại, khi các sản phẩm và dịch vụ kỷ thuật số mới được trao đổi và phương thức giao hàng thay đổi. Số liệu thống kê thương mại có thể đánh giá thấp tầm quan trọng thực sự của những thay đổi này đối với khối lượng thương mại, do những khó khăn trong việc đo lường dẫn đến việc báo cáo dưới mức.
Nguyên nhân chính giúp cho mô hình dựa vào xuất khẩu có khả năng tồn tại, dưới hình thức này hay hình thức khác, là cam kết lâu dài trong khu vực đối với thương mại tự do và cởi mở, điều này đã tạo điều kiện thuận lợi cho sự dịch chuyển nền kinh tế và tiến bộ xã hội trên quy mô lớn. Sự tăng trưởng và mở rộng chuỗi cung ứng trong khu vực đã củng cố thành công kinh tế và phần lớn không thể đảo ngược.
Có bằng chứng cho thấy việc cam kết này vẫn còn tồn tại. Gần đây, Malaysia quyết định gỡ bỏ các biện pháp kiểm soát giá và trợ cấp đối với các sản phẩm nông nghiệp nhạy cảm. Philippines đã gỡ bỏ giới hạn vốn sở hữu nước ngoài lâu dài và gây tranh cãi đối với dịch vụ công, cho phép 100% vốn nước ngoài trong tất cả các lĩnh vực dịch vụ công ngoài các tiện ích công cộng. Sáng kiến Hợp tác Kinh tế Toàn diện Khu vực do ASEAN chủ trì, với các quy định xuất xứ mở vào thời điểm áp lực toàn cầu chống lại tự do hóa, là một chỉ số khác của cam kết cởi mở khu vực, cũng như việc khởi động các cuộc đàm phán gần đây về Hiệp định Khung về Kinh tế kỹ thuật số ASEAN.
Nếu có rủi ro đối với mô hình dựa vào xuất khẩu thì rủi ro này có thể đến từ bên ngoài. Nhưng câu hỏi chính là liệu cam kết lâu dài của khu vực về sự cởi mở có đủ để chống lại sự gián đoạn và phân mảnh do căng thẳng địa chính trị leo thang mạnh mẽ hay không.
Nguồn: East Asia Forum
Từ khóa: mô hình, xuất khẩu, hàng hóa, dịch vụ
Các tin khác
- 'Kinh tế phục hồi chậm, cần thời gian bứt phá' - 28/03/2024
- EU ra đề bài khó cho AI - 28/03/2024
- “Liều thuốc” nào cho các sàn thương mại điện tử trong cơn “ốm sốt” của nền kinh tế? - 28/03/2024
- Với nhiều lợi thế, xuất khẩu gạo Việt sang Philippines sẽ tiếp tục khởi sắc - 28/03/2024
- Đức đang ở bờ vực của suy giảm kinh tế - 28/03/2024






















