WTO đã cảnh báo rằng sự hoài nghi thương mại giữa các nhà hoạch định chính sách và căng thẳng về chính sách thương mại đối với chuỗi cung ứng đang liên quan đến chuỗi cung ứng đang biểu hiện qua chuỗi cung ứng càng ngày càng phân mảnh và tập trung hơn. Bài viết này trình bài mô hình chỉ ra sự bất ổn trong chính sách thương mại cản trở khoản đầu tư cần thiết nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho việc hội nhập vào chuỗi giá trị toàn cầu như thế nào và chứng minh các hiệp định của WTO, thông qua các chương trình hành động được xem như một phương tiện cam kết để giảm sự không chắc chắn này và từ đó đưa ra khuyến khích về chính sách đầu tư và hội nhập.

Bất kỳ sự suy giảm nào về uy tín hoặc sự mất ổn định của WTO trong môi trường thương mại toàn cầu đều có thể gây ra những tác động lâu dài đối với chuỗi cung ứng toàn cầu.
Căng thẳng thương mại Mỹ-Trung, đại dịch COVID-19 và những lo ngại về an ninh quốc gia đã bộc lộ một số rủi ro trong chuỗi cung ứng toàn cầu hiện nay (Freeman và Baldwin 2022, Alfaro và Chor, 2023). Phản ứng từ các chính phủ và doanh nghiệp trên toàn thế giới đã tập trung vào đầu tư để làm cho các chuỗi cung ứng này trở nên “linh hoạt” hơn.1Cách tiếp cận khác là nhắm trực tiếp vào các cú sốc chính sách, ví dụ bằng cách đổi mới hợp tác trong chính sách thương mại và giảm thiểu sự không chắc chắn về hệ thống của các chính sách trong tương lai.
Cho đến gần đây, sự hợp tác thông qua WTO đã thành công trong việc giảm bớt sự không chắc chắn trong chính sách thương mại (TPU), vốn là nguồn quan trọng góp phần vào sự tăng trưởng xuất khẩu (Handley và Limão 2022). Tuy nhiên, sức mạnh uy tín và khả năng thực thi các cam kết trong WTO hiện nay đã suy giảm (xem, ví dụ, Wolff 2022 về giải quyết tranh chấp). Chính WTO cũng ghi nhận rằng sự hoài nghi về thương mại trong số các nhà hoạch định chính sách và căng thẳng chính sách thương mại liên quan đến chuỗi cung ứng đang biểu hiện qua chuỗi cung ứng càng ngày càng phân mảnh và tập trung hơn (WTO 2023). Trước khi từ bỏ hy vọng về sự hợp tác được đổi mới trong lĩnh vực này, chúng ta cần trả lời câu hỏi sau: Giá trị của các cam kết WTO theo chuỗi cung ứng toàn cầu là gì?"
Trong một bài báo mới của Handley và cộng sự sắp được xuất bản, cũng đã bắt đầu giải quyết vấn đề này. Cụ thể, nhóm nghiên cứu lập mô hình và ước tính các quyết định tìm nguồn cung ứng đầu vào của doanh nghiệp theo TPU và sử dụng khuôn khổ này để ước tính giá trị các cam kết của Trung Quốc đưa ra khi gia nhập WTO.
Việc giảm TPU đã làm tăng đầu tư vào nguồn nhập khẩu mới trong các doanh nghiệp và giúp doanh nghiệp phản ứng nhanh hơn với các biện pháp về tự do hóa thương mại trong tương lai.
Điều này dẫn đến việc gia tăng doanh thu cuối cùng cao hơn. Những ảnh hưởng từ TPU thấp hơn - nhu cầu đáp ứng giá cả tốt hơn và danh mục nhà cung cấp đa dạng hóa- phù hợp với lý thuyết của các nhà hoạch định chính sách và doanh nghiệp nhưng bị suy yếu bởi căng thẳng trong WTO và một số hiệp định khu vực.
Việc Trung Quốc gia nhập WTO và nhập khẩu nguyên liệu đầu vào
TPU có thể khó đo lường một cách có hệ thống trong thời gian dài. Một công cụ mô tả hữu ích là một chỉ số như chỉ số trong Hình 1, được xây dựng bằng thước đo của Davis và cộng sự (2019) về tần suất báo chí tiếng Trung nói về TPU. Chúng tôi lưu ý một số đặc điểm để cung cấp bối cảnh và minh họa tầm quan trọng hiện tại của TPU. Thứ nhất, chỉ số này giảm sau khi Trung Quốc gia nhập WTO, trong đó bao gồm cam kết của họ với việc cắt giảm thuế trước đó. Thứ hai, có sự tăng trưởng trong cuộc khủng hoảng năm 2008, mà cuối cùng đã giảm đi nhưng vẫn ở mức cao hơn trước đó. Chỉ số lại tăng lên trong chiến dịch tranh cử tổng thống của Donald Trump và bùng phát với việc ông nhậm chức cùng những đe dọa và thực thi liên tiếp các mức thuế đối với hàng trung gian Trung Quốc và các biện pháp đáp trả tiếp theo. Kể từ năm 2021, TPU đã giảm đi so với những đỉnh điểm trước đó nhưng vẫn còn cao.
Hình 1 Chỉ số Tin tức về TPU của Trung Quốc, 2000-2022


Nguồn: Các tác giả dựa trên dữ liệu từ Davis và cộng sự (2019).
Trung Quốc bắt đầu quá trình tự do hóa thương mại vào năm 1992 cùng với việc đưa ra khái niệm ‘Kinh tế thị trường xã hội’ và việc ký kết bản ghi nhớ về tiếp cận thị trường giữa Trung Quốc và Mỹ. Mức thuế mà Trung Quốc áp đặt đối với hàng hóa trung gian nhanh chóng giảm sau những sự kiện này. Hình 2 cho thấy mức thuế trung bình ưu đãi quốc gia (MFN) của Trung Quốc đã giảm từ 35% vào năm 1992 xuống khoảng 12% vào tháng 12 năm 2001, khi nước này gia nhập WTO, và dưới 10% vào năm 2006. Sự tự do hóa đáng kể trước WTO không được phản ánh qua tỷ lệ nhập khẩu nguyên liệu đầu vào so với GDP tăng cao, mà thực tế đã giảm giữa năm 1992 và 1998. Tỷ lệ này thực sự đã tăng một cách đáng kể và ổn định sau khi gia nhập WTO, mặc dù mức cắt giảm thuế trong giai đoạn này nhỏ hơn. Một giả thuyết cho những sự thật này là các nhà nhập khẩu Trung Quốc tin rằng mức thuế trong giai đoạn 1992-1998 có thể được thay đổi trong tương lai mà không cần cam kết thông qua một hiệp định như WTO. Kết quả là sự không chắc chắn về thuế quan đã làm giảm mức đầu tư của họ vào nhập khẩu nguyên liệu đầu vào. Theo giả thuyết này, việc gia nhập WTO đã mang lại sự tin cậy cho quá trình tự do hóa trước đó và do đó đã thúc đẩy nhập khẩu của các công ty Trung Quốc. Chúng tôi thấy rằng một phần đáng kể tác động của WTO đối với hàng nhập khẩu của Trung Quốc là do cơ chế cam kết này, chứ không phải do việc giảm thuế quan của Trung Quốc trong giai đoạn 2000-2006, điều mà nhiều nghiên cứu khác nhấn mạnh.
Hình 2 Mức thuế nhập khẩu trung bình áp dụng của Trung Quốc và nhập khẩu hàng hóa trung gian/GDP.


Tại sao quyết định nhập khẩu của Trung Quốc lại phụ thuộc vào sự không chắc chắn về thuế trong tương lai? Các doanh nghiệp cần đầu tư để tiếp nhận nhập khẩu nguyên liệu đầu vào mới; nếu mức thuế trong tương lai và giá của sản phẩm đó không chắc chắn, thì doanh nghiệp có thể chờ đợi và xem xét (nghĩa là chúng ta sẽ quan sát thấy đầu tư thấp hơn vào nguyên liệu có TPU cao hơn). Mô hình của chúng tôi dự đoán rằng giá trị nguyên liệu nhập khẩu của doanh nghiệp và lợi nhuận hoạt động của nó giảm theo các mức thuế áp dụng và sự không chắc chắn về thuế. Chúng tôi phân tách hiệu ứng TPU thành hai kênh: kênh thay thế (giảm rủi ro thuế nhập khẩu của nguyên liệu đầu vào làm tăng nguồn cung quốc tế so với trong nước) và kênh quy mô (tăng lợi nhuận và do đó tiếp nhận các nguyên liệu nhập khẩu khác).
Thử nghiệm mô hình
Để kiểm tra các dự đoán của mô hình, chúng tôi sử dụng dữ liệu giao dịch cấp doanh nghiệp của Trung Quốc từ năm 2000-2006 và thuế MFN theo quy định từ năm 1992-2006. Trong khi các thước đo tổng hợp theo chuỗi thời gian của TPU giống như thước đo được vẽ trong Hình 1 rất quan trọng để hiểu mức độ không chắc chắn rộng lớn cho toàn bộ nền kinh tế, thì phương pháp của chúng tôi sử dụng sự biến thể chéo chi tiết hơn so với chênh lệch giữa MFN được áp dụng và mức thuế lịch sử từ giữa những năm 1990 trước khi Trung Quốc bắt đầu quá trình tự do hóa. Nếu nỗ lực gia nhập WTO của Trung Quốc thất bại, các công ty có thể đã đặt nặng vấn đề về khả năng quay trở lại các mức thuế cao hơn này. Do đó, chúng tôi đo lường rủi ro thuế quan trong một năm nhất định bằng tỷ lệ giữa mức thuế MFN trung bình trước đây của Trung Quốc trước khi gia nhập WTO so với mức thuế áp dụng cho từng sản phẩm và từng năm.
Những phát hiện thực nghiệm chính của chúng tôi như sau:
- Thuế quan của Trung Quốc giảm đối với nguyên liệu đầu vào trung gian làm tăng nhập khẩu của doanh nghiệp; rằng độ co giãn của thuế quan mạnh hơn trong giai đoạn hậu WTO, vì những lần cắt giảm trước đó đã có được uy tín.
- Rủi ro thuế quan làm giảm nhập khẩu của các doanh nghiệp trước khi gia nhập nhưng ít hơn nhiều sau đó, do các doanh nghiệp đặt ra xác suất thấp hơn về việc đảo ngược thuế quan.
- Chúng tôi nhận thấy hiệu ứng thuế quan và rủi ro áp dụng hoạt động thông qua kênh thay thế và quy mô và mạnh hơn đối với các doanh nghiệp có năng suất cao hơn trong bất kỳ ngành nào.
- Xác suất áp dụng đầu vào nhập khẩu sau khi gia nhập sẽ cao hơn đối với các sản phẩm trước đây phải đối mặt với rủi ro thuế quan cao hơn.
Những kết quả này phù hợp với các mẫu doanh nghiệp, thước đo rủi ro, nguồn gốc TPU khác nhau và các giải thích khác nhau.
Tác động phản thực tế của việc gia nhập WTO lên hoạt động nhập khẩu và hoạt động của doanh nghiệp
Để định lượng vai trò của các cam kết WTO, chúng tôi sử dụng độ co giãn thực nghiệm và tính toán ba kịch bản giả định về chính sách: (1) không có TPU trong tất cả các năm, (2) TPU không đổi ở mức ước tính trước khi gia nhập và (3) TPU thấp hơn sau khi gia nhập.
Hình 3 Tăng trưởng nguyên liệu đầu vào trung gian giả định và phân rã


Kết quả của các kịch bản giả định được minh họa trong Hình 3. Chúng tôi thấy rằng việc cắt giảm thuế quan từ năm 1992 đến năm 2000 sẽ làm tăng nhập khẩu thêm 158 điểm log nếu không có TPU. Nếu TPU không thay đổi sau khi gia nhập WTO thì mức giảm thuế 5% trong giai đoạn 2000-2006 sẽ chỉ làm tăng nhập khẩu thêm 19 điểm log. Theo kịch bản cuối cùng, khi TPU cũng giảm, việc cắt giảm thuế quan trong năm 2000-2006 có tác động mạnh hơn, tăng thêm 27 điểm log. Hiệu ứng cam kết chiếm khoảng cách còn lại là 79 điểm log.
Mô hình của chúng tôi cũng dự đoán rằng các doanh nghiệp có năng suất cao hơn sẽ phản ứng nhanh hơn trước các cú sốc thuế quan và TPU. Chúng tôi xác minh điều này bằng thực nghiệm và trong Hình 4, chúng tôi minh họa cách nó chuyển thành doanh thu (hoặc tương đương là lợi nhuận hoạt động trong mô hình này). Như trong Hình 3, chúng tôi cho thấy kết quả nếu TPU không thay đổi bằng cách sử dụng các dấu chấm. Tự do hóa có tác động đáng kể hơn đến các doanh nghiệp có năng suất cao (màu tím) so với các doanh nghiệp khác (màu xanh lá cây). Quan trọng hơn, sự tăng trưởng lợi nhuận thông qua nhập khẩu trung gian chủ yếu là do việc giảm TPU, thể hiện qua khoảng cách giữa đường liền và đường chấm sau năm 2001.
Hình 4 Tăng trưởng lợi nhuận và doanh thu thực theo lợi nhuận doanh nghiệp


Phần kết luận
Tóm lại, nghiên cứu này cung cấp khung lý thuyết và bằng chứng thực nghiệm giúp nắm bắt giá trị của các cam kết WTO về thuế quan đối với các quyết định của doanh nghiệp trong việc áp dụng và nhập khẩu nguyên liệu đầu vào trung gian.
Mặc dù việc Trung Quốc gia nhập đã diễn ra hơn 20 năm trước, những phát hiện của chúng tôi đã làm sáng tỏ tác động của những căng thẳng thương mại gần đây hơn, chẳng hạn như chiến tranh thương mại Mỹ-Trung, Brexit và sự lúng túng của các nhà hoạch định chính sách về an ninh quốc gia và các yếu tố đầu vào quan trọng của chuỗi cung ứng. Kết quả của chúng tôi cho thấy độ tin cậy giảm sút của các hiệp định thương mại khu vực và đa phương có thể có tác động tiêu cực đến việc đầu tư vào các quyết định tìm nguồn cung ứng đầu vào trung gian mới. Những tác động này có thể tồn tại ngay cả sau khi các mối đe dọa giảm bớt hoặc được giải quyết nếu các doanh nghiệp tin rằng môi trường giao dịch trong tương lai kém ổn định và khó đoán hơn.
Nguồn: CEPR
Từ khóa: WTO, FTA, chuỗi cung ứng toàn cầu
Các tin khác
- Tiềm năng và điều kiện tiên quyết cho thanh toán kỹ thuật số xuyên biên giới giữa ASEAN - Nhật Bản - 28/02/2024
- Phát triển đô thị xanh - Xu thế tất yếu - 28/02/2024
- Định hình lại chuỗi cung ứng điều toàn cầu - 28/02/2024
- Chấp nhận rủi ro đơn hàng hay chọn hiểu đối tác trước khi ra “biển lớn”? - 28/02/2024
- Giải pháp hỗ trợ tăng trưởng tín dụng và phục hồi kinh tế - 28/02/2024






















