
Trong khi các thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) đang cố gắng tranh luận để đưa ra một chương trình làm việc cho Hội nghị Bộ trưởng lần thứ 10 được tổ chức tại Nairobi, Kenya, vào tháng 12 tới, Ấn Độ lại lo ngại về sự chậm trễ trong việc đạt được một "giải pháp lâu dài" cho vấn đề trợ cấp lương thực. Lo lắng của đất nước này bắt nguồn từ thực tế là các nước phát triển (chủ yếu là Mỹ và EU) có thể sử dụng nó như là một lợi điểm để đạt được những nhượng bộ trong các lĩnh vực khác như: hàngcông nghiệpvà dịch vụ .
Trợ cấp mua sắm lương thực là gì? Căn nguyên của vấn đề liên quan đến các khoản trợ cấp là gì? Giải pháp lâu dài mà Ấn Độ (và các nước đang phát triển khác) đã và đang tìm kiếm là gì? Những gì hậu quả gì sẽ xảy ra nếu giải pháp này bị trì hoãn? Đâu là sự kết hợp chiến lược đúng đắn?
Theo Hiệp định về Nông nghiệp (AoA) được ký kết tại thời điểm WTO có hiệu lực vào năm 1995, các nước đang phát triển có thể áp dụng các khoản trợ cấp nông nghiệphoặc tổng mức hộ trợ trong nước (aggregate measurement support - AMS) là 10% giá trị sản lượng của sản phẩm nếu là hỗ trợ cho sản phẩm cụ thể và là 10% giá trị sản xuất nông nghiệp cả nước nếu là hỗ trợ không theo sản phẩm cụ thể; còn ngưỡng cho phép đối với nước phát triển là 5%. Tổng AMS được chia thành 2 loại (i) hỗ trợ cho sản phẩm cụ thể - product specific: Vượt quá giá trả cho nông dân so với giá quốc tế hoặc ERP (giá tham khảo bên ngoài) nhân với định lượng sản phẩm; (II) hỗ trợ không cho sản phẩmcụ thể - non-product specific: tiền chi cho các đề án để cung cấp đầu vào như phân bón, hạt giống, thủy lợi, điện ở mức giá thấp. Tổng hỗ trợ AMS cho từng sản phẩm cụ thể và tổng hỗ trợ AMS không cho sản phẩm cụ thể không bị tính vào mức Tổng hỗ trợ gộp nếu dưới ngưỡng hỗ trợ cho phép tốit hiểu (de minimis).
Khi tính toán AMS, hỗ trợ về đầu vào cho nông dân nghèo được 'loại trừ' trong AoA. Sở dĩ có sự loại trừ này là việc hỗ trợ đó được xem như không có tác dụng 'bóp méo thương mại", trong khi nguyên tắc WTO chỉ nhắm mục tiêu đến các hình thức hỗ trợ sản xuất hiệu quả (trợ cấphộp hổ phách). Trong vòng đàm phán Uruguay tiền đề cho WTO, Ấn Độ đã đệ trình rằng 'trợ cấp đầu vào cho 79,5% tổng diện tích đất nông nghiệp là dành cho nông dân nghèo có ít hơn 10 ha đất canh tác có thu nhập thấp hoặc tài nguyên nghèo nên thuộc điều kiện miễn trừ theo Điều 6.2. Theo đó, trong thông báo của mình nộp vào năm 2002 về số liệu năm 1996/97 và 1997/9, Ấn Độ đã phân bổ khoảng 80% trợ cấp đầu vào theo Điều 6.2.
Cùng một cách diễn giải cũng được áp dụng đối với các khoản trợ cấp cho sản phẩmcụ thể. Tuy nhiên, nó không được kết hợp một cách rõ ràng trong thoả thuận; có lẽ, các nhà đàm phán của chúng ta đã không nhận thấy sự cần thiết của vấn đề này như việc giá hỗ trợ tối thiểu (MSP)cho nông dân thấp hơn đáng kể so với ERP dẫn đến ảnh hưởng tiêu cực đối với AMS dành cho 'sản phẩm cụ thể'. Tình trạng này tiếp diễn cho đến năm 2004-2006. Sau đó, do sự gia tăng đáng kể của MSP, tình trạng này đã bị đảo ngược. Ví dụ, hiện tại đối với sản phẩm lúa mì, MSP đang được tính là 226 USD mỗi tấn, cao hơn nhiều so với ERP 130 USD mỗi tấn, tính theo giai đoạn 1986-1988.
Vấn đề trợ cấp nông nghiệp tại WTO vẫn còn nhiều tranh cãi
Trong quan điểm này và trợ cấp sản phẩm cụ thể chuyển sang trạng thái dương và trợ cấp đầu vào nông nghiệp cũng tăng đáng kể, dẫn đến nguy cơ thực sự là AMS sẽ vượt trần 10%. Vấn đề có thể được giải quyết bằng cách xem xét lại AoA để (i) cập nhật ERP theo mức giá hiện tại [theo thỏa thuận, nó đã được cố định ở mức giá của giai đoạn 1986-1988, và điều này là hoàn toàn không thực tế và phi logic; đây là một lỗ hổng nghiêm trọng và không nên có và (ii) loại trừ việc thu mua từ nông dân nghèo tài nguyên để tính trợ cấp sản phẩm cụ thể. Đây thực sự là một giải pháp lâu dài mà Ấn Độđang cố tìm kiếm.
Tại Hội nghị các Bộ trưởng Balitháng 12 năm 2013, các nước phát triển đã đồng ý một "điều khoản hòa bình" (miễn các cáo buộc việc vi phạm các cam kết theo AoA) đểđổi lấy sự ủng hộ Hiệp định tạo thuận lợi cho thương mại (TFA)của các nước đang phát triển. Hiệpđịnh này tìm cách đơn giản hóa các thủ tục hải quan và cải thiện cơ sở hạ tầng biên giới để giúp thương mại nhanh hơn, dễ dàng hơn và rẻ hơn. Theo điều khoản hòa bình, từ nay đến năm 2017, nếu một quốc gia đang phát triển cung cấp cho trợ cấp nông nghiệp vượt quá 10% GDP nông nghiệp của mình sẽ không bị các thành viên khác kiện tụng. Sau thời gian này, WTO sẽ tìm kiếm một giải pháp thay thế lâu dài để giải quyết vấn đề an ninh lương thực của các nước đang phát triển.
Như đã nói ở trên, rõ ràng rằng khi điều khoản hòa bình có hiệu lực tới năm 2017mà mởra cho các nước đang phát triển có quyền trợ cấp nông nghiệp vượt quá mức tối đa10%. Tuy nhiên, chưa có đảm bảo rằng sẽ có giải pháp lâu dài thay thế sau thời điểm 2017. Điều khoản hòa bình có rất nhiều điều kiện ràng buộc như việc phải đệ trình dữ liệu về thu mua lương thực, dự trữ, phân phối và trợ cấp... vv. Các ràng buộc này bao gồm cả việc thiết lập các khoản trợ cấp không phải là "bóp méo thương mại”mà là gần như không thể thực hiện được. Nói cách khác, ngay cả trong thời thời điểm 2017, bất kỳ thành viên WTO nào cũng có thể kiện nếu các điều kiện ràng buộc không được đáp ứng.
Thủ tướng Ân Độ, Team Modi đã phải thừa nhận rằng thỏa thuận Bali đã bị rạn nứt. Vì vậy, trong các cuộc họp của Hội đồng chungWTO tại Geneva ngày 31 Tháng 7 năm 2014, phía Ấn Độ đã nhấn mạnhrằng thời hạn cho kế hoạch hành động để giải quyết vấn đề trợ cấp thu mua lương thực và một giải pháp lâu dài về vấn đề này phải được gắn với việc phê chuẩn TFA. Căng thẳng đến mức đã có đề xuất rằng cả hai vấn đề này nên được phê chuẩn 'đồng thời'. Ấn Độ không thể nhẹ dạ với vấn đề của mình cũng như WTO không thể tiến lên phía trước nếu thiếu sự đồng ý của Ấn Độ. Đã có bế tắc và không có bất cứ quyết định nàođược ra tại cuộc họp này, ngay cả với TFA.
Trong 3 tháng đàm phán giữa Ấn Độ và Mỹ (bao gồm cả cuộc họp thượng đỉnh của Modi với Obama vào ngày 30 tháng 9 năm 2014) cả hai bên đều đã nỗ lực để hài hoà quan điểm của nhau. Trước đây, cả hai bên đều không tập trung vào việc tìm kiếm một giải pháp lâu dài sớm, thì nay đã nhân nhượng để loại bỏ thời hạn 4 năm áp dụng điều khoản hòa bình. Tình trạng thay đổi này đã được thông báo cho Hội đồng chung WTO trong cuộc họp tổ chức vào ngày 10 tháng 11 năm 2014. Hội đồng đã chấp thuận gia hạn điều khoản hòa bình cho đến khi có một giải pháp lâu dài song song với phê chuẩn TFA.
Nhìn qua thì thỏa thuận có vẻ như công bằng đối với các nước đang phát triển. Nhưng trong thực tế nó có thể không được như vậy. Đầu tiên, các điều kiện ràng buộc để áp dụng điều khoản hòa bình đã không hề giảm xuống. Điều này sẽ tạo ra tình huống rấtdễ bị vi phạm và thanh kiếm vẫn treolơ lửng trên đầu! Thứ hai, việc tìm kiếm một giải pháp lâu dài đã được hoãn lại. Sau khi được gia hạn vô thời hạn "điều khoản hòa bình", các nước phát triển sẽ không phải chịu sức ép phải đưa ra giải pháp lâu dài. Thậm chí là không cần phải xem xét lại sự phù hợp của AoA , ví dụ như các quy định hiện nay đang cólợi cho các nước phát triển và làm tổn thương các nước đang phát triển.
Các nước phát triển không quan tâm tới giải pháp lâu dài cho vấn đề an ninh lương thực
Những nỗi lo sợ đang trở thành hiện thực. Đó là sau hơn 18 tháng kể từ khi tuyên bố Bali và gần một năm kể từ khi có sự hòa giải giữa Modi và Obama. Các nước phát triển đã thể hiện không có hứng thú gì để quan tâm đến khi nào thì có một giải pháp lâu dài. Đồng thời, họ tiếp tục yêu cầu Ấn Độ cung cấp tất cả các dữ liệu - theo điều kiện ràng buộc trong điều khoản hòa bình –mục đích là để phủ nhận lợi ích của nó ngay cả trong thời gian tạm thời. Điều này sẽ buộc Ấn Độ phải tìm kiếm quyết định nhanh chóng về giải pháp lâu dài từ các nước phát triển. Sự chậm trễ này sẽ được tận dụng để đòi hỏi các nhượng bộ trong các lĩnh vực khác như giảm thuế công nghiệp và tự do hoá lĩnh vực dịch vụ một cách tự nguyện.
Năm ngoái, tại Hội đồng chung WTO, Modi gọi các nước phát triển là lừa gạt và đã tiến hành bước đúng hướng khi yêu cầu kế hoạch hành động có thời gian ràng buộc việc phải có một giải pháp lâu dài và phê duyệtđồng thời với TFA. Nhưng chính phủ Ấn Độ đã bị cám dỗ bằng việc hứa hẹn bãi bỏ thời hạn 4 năm trong điều khoản hoà bình mà quên rằng “điều khoản hòa bình"không phải là vô điều kiện, cũng không thực hiện bất kỳ nỗ lực nào để làm giảm các điều kiện ràng buộc này.
Khi chính phủ chuẩn bị cho hội nghị các Bộ trường tại Nairobi, lý tưởng nhất là nên nhấn mạnh vào việc đòi hỏi phải có một giải pháp lâu dài ngay từ 'bây giờ' bằng việc (i) cập nhật ERP với mức giá hiện tại và (ii) không bao gồm khoản thu mua từ nông dân nghèo tài nguyên khi tính trợ cấp sản phẩm cụ thể theo quy định trong AoA. Các nước phát triển không được phép kiện tụng nếu chỉ dựa vào lý do 'dữ liệu được yêu cầu kiểm tra' - như là mối quan tâm để loại bỏ sai sót trong AoA (ERP tính với giá của 3 thập kỷ trước không thể sử dụng so sánh với MSP ngày nay ở Ấn Độ để tính toán mức độ trợ cấphiện tại); tương tự như vậy, nếu như các nông dân nghèo nguồn lực có thể nhận hỗ trợ đầu vào không tính vào khoản trợ cấp, thì tại sao lại từ chối miễn trừ cho khoản trợ cấp sản phẩm?.
Nếu các nước phát triển vẫn còn đắn đo, thì Ấn Độ nên nhấn mạnh vào khả năng “vô điều kiện”tạm thời trong “điều khoản hòa bình” cho đến khi tìm được một giải pháp lâu dài. Và, điều này phải không được kèm với bất kỳ vấn đề nào khác,ví dụ như thuế quan công nghiệp hoặc các dịch vụ.
Theo http://www.uttamgupta.com/ - MD
Từ khóa: Trợ cấp, lương thực, vẫn 'ám ảnh', Ấn Độ, WTO
Các tin khác
- Dệt sợi tăng tốc - 15/07/2015
- Nhiều ưu đãi từ Hiệp định: Thương mại biên giới giữa Việt Nam - Lào - 15/07/2015
- NDB và AIIB phá vỡ thế độc quyền của IMF và WB - 15/07/2015
- WTO nối lại đàm phán mở rộng danh mục sản phẩm công nghệ miễn thuế - 15/07/2015
- Thành viên WTO thảo luận về vấn đề bông tại Nairobi - 14/07/2015






















