
Tại Hội nghị Bộ trưởng lần thứ IX vào tháng 12 năm 2013, các thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) đã kết thúc đàm phán về Hiệp định Tạo thuận lợi Thương mại (TFA). Tiếp theo đó, ngày 27 tháng 11 năm 2014, các thành viên WTO đã thông qua Nghị định thư sửa đổi để bổ sung vào Hiệp định mới này và đưa nó trở thành Phụ lục 1A của Tuyên ngôn Marrakesh Thành lập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO).
TFA sẽ có hiệu lực (Điều X.3 Hiệp định WTO) khi có đủ hai phần ba các thành viên WTO, tức là 108 thành viên tính đến tháng 6 năm 2015, phê chuẩn và thông báo chấp nhận thỏa thuận với Ban Thư ký WTO. Để đạt được điều này, trước tiên các thành viên WTO phải trải qua ba giai đoạn chính sau đây:
1) Giai đoạn phê chuẩn: Ở cấp độ trong nước, mỗi thành viên sẽ tiến hành các thủ tục phê chuẩn, thủ tục này có thể khác nhau giữa các thành viên.
2) Giai đoạn chấp nhận: Ở cấp độ đa phương, các thành viên WTO đã hoàn thành thủ tục phê chuẩn trong nước của mình, gửi thông báo về việc chấp nhận Nghị định thư sửa đổi Hiệp định WTO (Nghị định thư) cho các Thành viên WTO khác.
3)Giai đoạn có hiệu lực: Nghị định thư sẽ có hiệu lực sau khi chấp nhận bởi hai phần ba số thành viên WTO. Lưu ý kỹ thuật này mô tả các bước trong ba giai đoạn này một cách liên tục để hướng dẫn các nước thành viên hướng tới việc áp dụng các TFA.
GIAI ĐOẠN PHÊ CHUẨN
Phê chuẩn thể hiện một nhà nước đồng ý chịu sự ràng buộc về mặt pháp lý theo các điều khoản của một hiệp định. Giai đoạn này liên quan đến các thủ tục phê chuẩn ở cấp quốc gia trước khi một Thành viên WTO có thể thông báo việc chấp nhận TFA cho các thành viên khác.
Bước 1: Xem xét các yêu cầu pháp lý trong nước về chấp nhận một Hiệp định quốc tế
a) Việc đầu tiên, các thành viên WTO phải xem xét pháp luật quốc gia của mình (các yêu cầu pháp lý theo hiến pháp và cac bộ luật có liên quan) đối với việc phê chuẩn một hiệp ước quốc tế. Đối với những thành viên đã có quy định cụ thê cho việc phê chuẩn các cho các hiệp định thương mại WTO, thì chỉ cần tập trung vào các yêu cầu của quy định này.
b) yêu cầu pháp lý của Hiến pháp và các bộ luật khác về phê chuẩn các hiệp ước quốc tế thường nằm một trong hai trường hợp sau sau:
i) Cơ quan hành pháp có thể có quyền phê chuẩn hiệp định nếu nội dung của hiệp định chỉ bao gồm các khía cạnh thuộc đặc quyền của cơ quan hành pháp; hoặc
ii) Cơ quan lập pháp phê chuẩn hiệp định này, ví dụ như hiệp định muốn có hiệu lực thực thi thì phải cần Quốc hội ban hành một luật mới hoặc sửa đổi một bộ luật hiện tại, hoặc nếu các vấn đề trong hiệp định nằm trong quyền của cơ quan lập pháp.
Trong cả hai trường hợp trên, Hiệp định cần phải được thẩm định pháp lý (xem hộp 1).
Hộp 1: Thẩm định pháp lý thực hiện TFA
Trong trường hợp cần phải thẩm định pháp lý, các thành viên WTO có thể áp dụng các bước sau đây:
a) Đánh giá của Chính phủ có thẩm quyền pháp lý phê chuẩn một hiệp định quốc tế hay nghị định thư.
b) Tất cả các bộ ngành có liên quan đến thương mại hàng hóa qua biên giới hàng hoá nên tham gia quá trình thẩm định pháp lý. Ủy ban thúc đẩy thương mại Quốc Gia (NTFC) là cơ quan thích hợp nhất để tổ chức thực hiện việc này. Nếu không có NTFC thì cơ quan điều phối các cuộc đàm phán thuận lợi hóa thương mại, chẳng hạn như Bộ thương mại, ngoại giao, hay bất kỳ cơ quan nào khác có liên quan (ví dụ như hải quan, giao thông ) và / hoặc bộ trưởng Bộ Tư pháp có thể là người chủ trì thẩm định pháp lý và các trình ự luật pháp đối với thủ tục phê chuẩn trong nước.
c) Việc thẩm định phải bao gồm nội dung phân tích pháp lý về các nghĩa vụ trong hiệp định FTA của WTO so với khung pháp lý trong nước.
d) Các thành viên WTO là các nước đang phát triển và kém phát triển có thể nhận được sự hỗ trợ cho công tác thẩm định pháp lý, ví dụ như trên phân tích pháp lý sẽ được các tổ chức có trong Phụ lục D thực hiện, chẳng hạn như: kế hoạch thực hiện tạo thuận lợi thương mại quốc gia của UNCTAD, các báo cáo nghiên cứu và ghi chú kỹ thuật; cũng như đánh giá nhu cầu của WTO.
e) Kết quả cuối cùng của công tác thẩm định là sẽ xác định rằng Quốc hội có cần ban hành một đạo luật mới hoặc sửa đổi một bộ luật hiện tại để thực hiện các TFA hay không. Và cơ quan lập pháp sẽ là cơ quan có thẩm quyền phê chuẩn TFA theo các yêu cầu pháp luật hay của Hiến pháp.
Bước 2: Xây dựng các công cụ trong nước để phê chuẩn Nghị định thư sửa đổi Hiệp định WTO
Khi thành viên WTO tiến hành phê chuẩn bởi cơ quan Hành pháp hay cơ quan Lập pháp như ở bước 1, các hành động sau đây sẽ được áp dụng cho việc xây dựng các công cụ để phê chuẩn Nghị định thư sửa đổi Hiệp định WTO:
a) Xây dựng một dự thảo các công cụ pháp lý cần thiết (có thể là bộ luật, nghị định hoặc quyết định).
b) Tuỳ theo yêu cầu về thủ tục, phải có một tờ trình giải thích/chứng minh sự cần thiết phải phê duyệt và phê chuẩn Nghị định thư, tờ trình này phải phân tích thuận lợi, khó khăn, các tác động kinh tế, phân tích rủi ro và khuyến nghị; và
c) Trình dự thảo văn bản cùng với tờ trình, báo cáo tới:
i) Các nội các và / hoặc Chủ tịch / Thủ tướng Chính phủ trong trường hợp cơ quan hành pháp là người phê chuẩn, hoặc
ii) Quốc hội trong trường hợp cơ quan lập pháp là người phê chuẩn.
Phụ lục I bao gồm các mô hình mà các thành viên đang phát triển và kém phát triển của WTO có thể sử dụng để xây dựng các công cụ để tiến hành phê chuẩn Nghị định thư. Quyết định đã được thông qua bởi Hội đồng chung vào ngày 27 Tháng 11 năm 2014 (WT / L / 940) yêu cầu các thành viên WTO phải thông báo việc chấp nhận "Nghị định thư". Tương tự như vậy, quyết định này nêu rõ "Nghị định thư" sẽ có hiệu lực theo quy định tại Điều X.3 của Hiệp định WTO. Qua đó, các công cụ phê chuẩn có thể được xây dựng theo một trong hai hướng sau:
a) Phê duyệt / phê chuẩn Nghị định thư (Phụ lục IA); hoặc
b) Phê duyệt/ phê chuẩn Nghị định thư và các phụ lục TFA tới Nghị định thư(Phụ lục I-B)
Bước 3: Phê duyệt Nghị định thư sửa đổi Hiệp định WTO
Tùy thuộc vào yêu cầu của pháp luật trong nước của họ (ví dụ như hiến pháp) của mỗi thành viên WTO, sự chấp thuận TFA của WTO có thể xảy ra trong hai trường hợp khác nhau:
a) Chi nhánh điều hành: nếu tất cả các vấn đề được bao phủ bởi TFA là một phần quyền hạn riêng của ban điều hành, ban điều hành một mình, mà không cần sự can thiệp của quốc hội, có thể phê duyệt thỏa thuận.
b) Cơ quan lập pháp: Quốc hội có thể là cơ quan thích hợp để phê duyệt TFA của WTO khi:
i) Việc thực hiện thỏa thuận đòi hỏi phải ban hành mới hoặc sửa đổi pháp luật hiện hành, và/hoặc
ii) Các vấn đề được bao phủ bởi TFA nằm trong quyền hạn của Quốc hội. Bước này cho phép các thành viên WTO cân nhắc và xem xét những hậu quả chính trị và kinh tế của việc trở thành một bên của TFA. Do đó, cơ quan điều phối và các bên liên quan khác, đặc biệt là các nhà đàm phán thuận lợi thương mại, có thể được yêu cầu để hỗ trợ và theo dõi các cuộc tranh luận cũng như sẵn sàng cho việc trả lời các câu hỏi kỹ thuật về TFA.
Bước 4: Phê chuẩn
a) Thành viên WTO thể hiện sự đồng ý của họ để được kết nối vào TFA thông qua phê chuẩn.
b) Trong trường hợp Quốc hội chấp thuận, chi nhánh điều hành sẽ phê chuẩn thỏa thuận sau đó.
c) Các văn kiện phê chuẩn phải được ký kết nhân danh Nhà nước. Thông thường, một trong hai người đứng đầu Nhà nước, Chính phủ, Bộ trưởng Ngoại giao có năng lực pháp lý để đại diện cho Nhà nước ký.
Lưu ý: Việc phê chuẩn không có nghĩa là các thành viên của WTO liên quan sẽ ngay lập tức áp dụng TFA WTO. Thỏa thuận này sẽ chỉ được ràng buộc đối với các thành viên WTO mà phê chuẩn nó và khi nó có hiệu lực.
Theo www.tfafacility.org - PT
Từ khóa: Các bước giúp, thành viên, WTO, thực hiện, phê chuẩn, chấp nhận, ban hành. hiệu lực. Nghị định bổ sung FTA
Các tin khác
- Liên minh Kinh tế Á-Âu: Doanh nghiệp Việt hưởng lợi gì? - 08/07/2015
- 53% tổng số dòng thuế NK về 0% khi Hiệp định Việt Nam-EAEU có hiệu lực - 08/07/2015
- Canada đối mặt với rào cản xuất khẩu của Hàn Quốc - 08/07/2015
- Đàm phán TPP hoàn tất vào cuối tháng này - 07/07/2015
- FTA VN-Liên minh KT Á Âu: Cắt giảm 9.927 dòng thuế, cơ hội lớn cho DN Việt - 07/07/2015






















