JSN_TPLFW_TOGGLE_MENU
Tin tứcTại sao “quyền đàm phán nhanh” lại đối mặt với quá nhiều sự phản đối từ Quốc hội Mỹ

Tại sao “quyền đàm phán nhanh” lại đối mặt với quá nhiều sự phản đối từ Quốc hội Mỹ

US-congress

Các chính trị gia của Mỹ không chỉ quan tâm đến hiệu ứng tạo việc làm trong lĩnh vực xuất khẩu mà còn là hệ quả thay thế việc làm do nhập khẩu.

Sau một hành trình đầy bất ngờ và được thông qua tại Thượng viện, dự luật về quyền đàm phán nhanh giờ đây được chuyển đến Hạ viện - nơi nó phải đối mặt với sự phản đối của hầu hết các nghị sĩ Đảng Dân chủ và một số lượng đáng kể các thành viên Đảng Cộng hòa. Trong bài báo gần đây trên tờ National Journal, tác giả Ronald Brownstein đã đưa ra nền tảng mà các nghị sĩ Dân chủ bỏ phiếu chống đối với quyền đàm phán nhanh.

Bài viết lưu ý rằng hầu hết các thành viên quốc hội phản đối cấp quyền đàm phán nhanh cho Hiệp định quan hệ đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) vì họ cảm thấy bối rối khi là đại diện dân biểu cho 20 thành phố mà “việc làm của người dân gắn liền với xuất khẩu”

Danh sách các thành phố này phản ánh sự phân phân bố dân cư của Mỹ nhiều hơn là tác động thực sự lên thương mại ở các thành phố này. 16/20 thành phố này là những thành phố đông dân nhất tại Mỹ. Vì dân số lớn nên nhìn chung họ sẽ có nhiều việc làm hơn trong đó việc làm trong lĩnh vực xuất khẩu và phi thương mại là đa số - và đương nhiên mức độ cạnh tranh trong nhóm việc làm liên quan đến nhập khẩu cũng cao hơn. Đó là lý do tại sao không có gì ngạc nhiên khi nhiều thành phố lớn của Mỹ phải đối mặt với tỷ lệ mất việc lớn dưới chính sách thương mại như hiện nay.

14 trong 20 khu vực mà tác giả Brownstein chỉ ra là những khu vực đứng đầu về công việc liên quan đến xuất khẩu và cũng là những thành phố nằm trong nhóm đầu của Bộ Lao động Mỹ vì tỷ lệ mất việc do chuyển dịch sản xuất và nhập khẩu kể từ khi Mỹ ký kết Hiệp định khu vực mậu dịch tự do Bắc Mỹ (NAFTA). Ông Brownstein cũng lưu ý rằng 18/20 thành phố được chỉ ra đều có Thị trưởng là người thuộc đảng Dân chủ. 

Các hiệp định thương mại hiện có đã làm xói mòn công việc của tầng lớp trung lưu và hệ quả là mức lương của người lao động có xu hướng giảm - điều này giúp lý giải tại sao các thành viên Quốc hội phản đối trao cơ chế đàm phán nhanh cho TPP cũng như nhiều thỏa thuận khác trong quá khứ.

TPP sẽ khuyến khích dịch chuyển việc làm ra nước ngoài tương tự như NAFTA; cung cấp sự bảo hộ đặc biệt cho các công ty Mỹ nơi mà họ lựa di dời hoạt động sản xuất đến đó vì mức lương thấp ví dụ như Việt Nam. Ngoài ra, chính quyền Mỹ cũng thừa nhận rằng các điều khoản lao động trong TPP là dựa trên những gì mà Tổng thống George W.Bush đã sử dụng trong 4 hiệp định sau cùng mà ông đại diện ký kết.

Nền tảng mà tác giả Brownstein căn cứ vào là: Chúng đã bào mòn một nửa các cân thương mại. Đồng thời, thành viên Quốc hội ở cả 2 đảng cũng như nhiều nhà kinh tế và các nhóm liên quan không chỉ quan tâm đến hiệu ứng tạo việc làm mới từ xuất khẩu mà còn là hiệu ứng thay thế việc làm bởi hoạt động nhập khẩu.

Kinh tế học truyền thống cho rằng xuất khẩu ròng (xuất khẩu trừ nhập khẩu) sẽ tác động lên việc làm và tăng trưởng. Khi nhập khẩu nhiều hơn xuất khẩu sẽ tạo ra tình trạng thâm hụt thương mại và hệ quả sẽ là việc làm có xu hướng bị thay thế và tăng trưởng sẽ bị chậm lại do nền kinh tế không đạt được tình trạng toàn dụng.

Xem xét ảnh hưởng của TPP theo mô hình lý thuyết này thì việc quốc hội phản đối TPP là điều dễ hiểu. Theo số liệu từ Cơ quan Thương mại Mỹ thì Mỹ đang thâm hụt 117,5 tỷ USD thương mại hàng hóa với 20 đối tác thương mại tự do của mình. Tổng thâm hụt với nhóm đối tác này trong năm 2014 cao hơn gấp 5 lần so với trước thời điểm ký kết hiệp định thương mại tự do.

Số liệu này cũng giúp giải thích tại sao các cuộc thăm dò gần đây cho thấy công chúng Mỹ ủng hộ “việc khuyến khích bán hàng hóa Mỹ ra nước ngoài”; chỉ ít hơn 1/5 số người được hỏi tin rằng các hiệp định thương mại tạo ra việc làm trong khi đa số cho rằng đó là nguyên nhân dẫn đến tình trạng thất nghiệp tại Mỹ. Chỉ 1/10 số người được hỏi tin rằng các hiệp định thương mại sẽ là động lực cho việc tăng lương trong khi gấp 4 lần tỷ lệ này tin rằng mức lương sẽ dần bị hạ thấp.

Thâm hụt thương mại với các đối tác có FTA không chỉ vì nhập khẩu phình to mà còn bởi tăng trưởng xuất khẩu của Mỹ mờ nhạt. Bất chấp những hứa hẹn rằng các FTA sẽ thúc đẩy cho hoạt động xuất khẩu của Mỹ - điệp khúc cũng đang được lặp lại với TPP - thì trên thực tế tăng trưởng xuất khẩu của Mỹ với các nước đối tác FTA hiện có đã giảm 20% so với các đối tác còn lại của Mỹ trong vòng 1 thập kỷ qua.

Ví dụ thỏa thuận được ký gần đây nhất, FTA giữa Mỹ với Hàn Quốc ra đời năm 2012 - thỏa thuận được các nhà đàm phán Mỹ sử dụng như khuôn mẫu cho TPP. Trong 3 năm đầu tiên thực hiện thỏa thuận này, thâm hụt thương mại của Mỹ với Hàn Quốc đã tăng vọt 90% vì nhập khẩu tăng mạnh trong khi xuất khẩu của Mỹ vào thị trường này lại giảm; 35 trong 36 tháng đầu khi hiệp định có hiệu lực Mỹ đều ở trong tình trạng thâm hụt với tỷ lệ trung bình hàng tháng cao hơn so với 3 năm trước đó.

Do đó việc TPP phải đối mặt với sự phản đối rộng rãi như hiện nay tại Quốc hội Mỹ cũng là điều không quá khó hiểu.

Tác giả: Ben Beachy - Giám đốc nghiên cứu Public Citizen's Global Trade Watch.

Theo http://www.nationaljournal.com – PC

Từ khóa: tại sao, TPP, cơ chế đàm phán nhanh, TPA, đối mặt, sự phản đối, Quốc hội, Mỹ

Chuyên mục RCEP

JSN_TPLFW_TOGGLE_MENU

Tin tức

JSN_TPLFW_TOGGLE_MENU

Thư viện hội nhập

thu vien

Xem nhiều nhất


phong ve thuong mai

Video

Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field

Liên kết

 

Lượt truy cập

008791861
Go to top