JSN_TPLFW_TOGGLE_MENU
Tin tứcTổng hợp tình hình Cộng đồng kinh tế ASEAN trong tháng 6/2016

Tổng hợp tình hình Cộng đồng kinh tế ASEAN trong tháng 6/2016

ASEAN6

Trong tháng 6/2016, tin tức về Cộng đồng kinh tế ASEAN được thành lập cuối năm ngoái khá sôi động.

Loại bỏ hàng rào phi thuế quan - ưu tiên của AEC

ASEAN nên nỗ lực để doanh nghiệp có thể hoạt động trong một môi trường ổn định, minh bạch và có thể dự báo trước.

Ngày 31/5, phát biểu tại Hội thảo ASEAN 2016 tại Singapore, Bộ trưởng Thương mại và Công nghiệp Singapore Lim Hng Kiang đã vạch ra những nỗ lực mà Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC) nên tập trung nhằm thực hiện những biện pháp hướng tới làm sâu sắc hơn nữa quan hệ thương mại xuyên biên giới.

Theo Bộ trưởng Kiang, các nỗ lực đó bao gồm: giúp đỡ các doanh nghiệp vừa và nhỏ (SMEs) gặt hái những lợi ích của hội nhập khu vực, loại bỏ các hàng rào phi thuế quan, điều tiết những ngành kinh doanh mới và khuyến khích sự phát triển bền vững. Đây cũng chính là những ưu tiên trong chương trình hành động của AEC năm 2025.

Ông Kiang nhận định, những sáng kiến được hiện thực hóa của ASEAN trong thời gian sắp tới như cơ chế Một cửa ASEAN sẽ giúp các nước thành viên Hiệp hội giao dịch thương mại nhanh hơn, giảm thiểu chi phí cho doanh nghiệp. Bên cạnh đó, các thủ tục cấp phép rườm rà cho xuất nhập khẩu cũng sẽ dần được loại bỏ.Từ đó, “các doanh nghiệp có thể hoạt động trong một môi trường ổn định, minh bạch và có thể dự báo trước”.

Chương trình hành động của ASEAN 2025 hướng tới sẽ đáp ứng nhu cầu của các doanh nghiệp kinh doanh trong môi trường hiện đại và sẽ tìm cách để tạo thuận lợi cho thương mại điện tử phát triển. Tính đến cuối tháng 12/2015, ASEAN đã hoàn thành 93% các dòng hành động để hình thành AEC 2015.Phần nhỏ các dòng hành động còn lại sẽ được hoàn tất trong năm nay.

AEC là một thị trường khu vực có tổng GDP khoảng 2,6 nghìn tỷ USD và có dân số hơn 622 triệu người.

Cộng đồng Kinh tế ASEAN và ý nghĩa của sở hữu trí tuệ

Rất ít người phương Tây biết đến cụm từ viết tắt “ASEAN” – cộng đồng các quốc gia Đông Nam Á là vì trong suốt lịch sử 50 năm của mình, ASEAN có quá ít sự kiện đáng nhớ đối với các doanh nghiệp nước ngoài. Thêm vào đó, cho đến tận ngày nay, ASEAN vẫn chỉ tồn tại 'trên giấy' như là một liên minh chính trị hơn là một cộng đồng có tác động lớn đến kinh doanh quốc tế.

Nhưng từ năm 2015, điều này đã thay đổi, khi Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC) chính thức được thành lập. Theomô hình tương tự cộng đồng kinh tế EU, mục tiêu lớn của AEC là (1) phát triển thành một thị trường và cơ sở sản xuất chung duy nhất; (2) hình thành một khu vực phát triển kinh tế công bằng hơn, và (3) đưa khu vực hội nhập kinh tế toàn cầu. Để đạt được 3 mục tiêu này, những rào cản thương mại sẽ phải được loại bỏ hoặccắt giảm và các tiêu chuẩn chung đối với một số lĩnh vực (ví dụ: mỹ phẩm, dược phẩm, nông sản, và các thiết bị y tế) sẽ đượchài hòa hóa.

Cộng đồng Kinh tế ASEAN và quyền sở hữu trí tuệ (SHTT)

Chuẩn bị cho mức độ hội nhập kinh tế theo mục tiêu trên là nhiệm vụ không hề đơn giản, nhất là trong lĩnh vực quyền sở hữu trí tuệ, lĩnh vực trọng tâm củatrong chiến lược giai đoạn 2011-2015:

Một hệ thống SHTT cân bằngbao hàm các mức độ khác nhau về sự phát triển của các quốc gia thành viên, trong đó bao gồm cả các tổ chức SHTT, để khu vực trở nên thuận lợi hơn cho các chủ nhân nắm giữ SHTT và người sáng tạo.

Phát triển hạ tầng pháp luật và chính sách quốc gia hay khu vựcsao cho có thể ứng phó kịp thời trước môi trường SHTT luôn thay đổi và cho phép các quốc gia ASEAN tham gia vào hệ thống SHTT toàn cầu.

Thúc đẩy SHTTsáng tạo, nâng cao nhận thức và sử dụng một cách có hệ thống, sao cho SHTT trở thành một công cụ giúp cho sự đổi mới và phát triển.

Tham gia khu vực hoạt động của cộng đồng SHTTthế giới, để phát triển năng lực của các quốc gia thành viên và giải quyết các nhu cầu của các bên liên quan trong khu vực.

Tăng cường hợp tác giữa các quốc gia thành viên và tăng phạm vi quy mô hợp tác để nâng cao năng lực con người và thể chế của Văn phòng SHTT khu vực.

Các tác động đối với người nắm giữ quyền SHTT

Mặc dù đang có những lo ngại về việc liệu mỗi quốc gia thành viên có thể giúp cho các tổ chức SHTT của họ đạt chuẩn hay không, việc thành lập AEC gần như chắc chắn sẽ làm cho các vấn đề phát sinh liên quan đến bảo vệ SHTTđối với các doanh nghiệp nước ngoài,thậm chí nhiều hơn, chứ không phải là ít đi. ASEAN sẽ không đi xa như EU là hướng tới lưu thông tự do không giới hạn của hàng hóa, nhưng vẫn tạo ra được một sự gia tăng tự do đáng kể cho lưu thông tất cả các loại hàng hóa, làm gia tăng tiềm ẩn thương mại hàng giả, hàng nhái quốc tế.

Về lý thuyết, bảo vệ SHTTgắn liến với cơ chế tự điều tiết: với sự tự do hóa cao hơn về vốn và đầu tư được xem như là một mục tiêu, đầu tư có thể sẽ không có tăng trưởng nếu như việc bảo vệ SHTT của quốc gia chủ nhà yếu kém. Trong thực tế, sự tụt hậu hay hoạt động lạc nhịp của các tổ chức SHTTnên được dự báo trước, và đừng quên một số điểm chính liên quan đến các hệ thống SHTT của khu vựcnhư sau.

Thứ nhất, AEC không có kế hoạch giới thiệu một 'Thương hiệu Cộng đồng - Community Trade Mark” hoặc bằng sáng chế của khu vực. Do đó, một ngườinắm giữ quyền SHTT phải đăng ký bảo hộ tại quốc gia mà họ muốn. Ngoài ra, nên lưu ý về các quy phạm pháp luật liên quan đến bí mật thương mại và bản quyền, vì chúng có thể sớm được ban hành ở tất cả các quốc gia riêng rẽ.

Thứ hai, AEC với hải quan'một cửa' có nghĩa là, cũng giống như EU, hàng hóa từ nước ngoài sẽ nhập vào thị trường AEC qua một điểm nhập cảnh hải quan, và sau đó được tự do lưu thông trong khắp AEC mà không cần phải kiểm tra biên giới bổ sung. Điều này có nghĩa rằng hàng hoá của bạn có thể sẽ được bán ở một nước AEC mà bạn không dự định trước hay đoán trước được. Do đó, bảo vệở phạm vi đa quốc gia cần được xem xét một cách cẩn thận.

Thứ ba, cần nhận biết được sự khác biệt giữa các quốc gia. Một số quốc gia thành viên ASEAN như Singapore và Thái Lan được coi là dẫn đầu khu vực trong việc bảo vệ sở hữu trí tuệ, cao đến mức mà Singapore đã trở thành một trung tâm thương mại SHTT toàn cầu. Trong khi những thành viên khác vẫn đang loay hoay với hạ tầng pháp lý của họ - Philippines gần đây đãban hành một số sáng kiến ​​chính sách để làm nền tảng cho việc phê chuẩn một số hiệp ước về sở hữu trí tuệ quốc tế, chẳng hạn như các Công ước Nice về phân loại hàng hoá và dịch vụ trong thủ tục cấp nhãn hiệu thương mại, kèm theo đó là hải quan công khai xử lý hàng giả. Như vậy các doanh nghiệp cần phải nhận biết các vùng lãnh thổ có nguy cơ cao hơn và ưu tiên các biện pháp ứng phó kịp thời cho nó.

Nguy cơ hàng giả tồn tại ở tất cả các nước ASEAN. Thái Lan, Việt Nam và Indonesia là nguồn cung chính, và cũng là điểm đến của hàng giả, mặc dù phần lớn hàng giả vẫn được nhập khẩu từ Trung Quốc. Singapore là một thị trường hạn chế đối với hàng giả, song lại như một cảng lớn tiếp nhiều hàng hóa từ Trung Quốc, và nó vẫn đang là một điểm đến và chuyển điểm cho hàng hóa vi phạm SHTT. AEC sẽ là một bước ngoặt đối đối với môi trường kinh doanh ở Đông Nam Á, nhưng các doanh nghiệp không nên cho rằng rủi ro đối với tài sản trí tuệ sẽ giảm ngay lập tức –sự cẩn trọng và có một chiến lược bảo vệ vững chắc sẽ trở nên quan trọng hơn trong tương lai gần.

Cộng đồng ASEAN: Doanh nghiệp và trách nhiệm giải trình ngoài biên giới

Cộng đồng kinh tế ASEAN chính thức thành lập vào tháng 12/2015 là cột mốc quan trọng trong tiến trình hợp tác kinh tế giữa các quốc gia trong khu vực. Sự kiện này thúc đẩy tiềm năng tăng trường kinh tế, cũng như vai trò của các tập đoàn quốc gia, đa quốc gia và các doanh nghiệp nhỏ hơn trong thời gian tới.

Trong bài viết dưới đây, Tiến sĩ Carl Middleton, Phó Giám đốc Nghiên cứu Quốc tế thuộc Trung tâm Nghiên cứu Phát triển Xã hội, Đại học Chulalongkorn (Thái Lan) đã phân tích sâu hơn về trách nhiệm của chính phủ và doanh nghiệp trong bối cảnh mới này để có thể tạo dựng một Cộng đồng Asean phát triển công bằng, bền vững và vì toàn dân.

Tăng trưởng kinh tế thông qua hợp tác khu vực sẽ giúp người dân có thêm việc làm, gia tăng thu nhập và tăng ngân sách quốc gia cho các dịch vụ công như y tế và giáo dục. Tuy nhiên, quá trình phát triển cũng có thể kéo theo hàng loạt những nguy cơ như tình trạng vi phạm quyền của người lao động, chiếm dụng đất đai và tài nguyên thiên nhiên của các cộng đồng dân cư, tham nhũng, hối lộ và hủy hoại môi trường.

Điều đáng nói là đến nay, tất cả các tác động tiêu cực trên đã xảy ra phổ biến ở các quốc gia ASEAN. Hàng loạt các dự án kinh tế trong khu vực đã tác động nghiêm trọng tới môi trường và xã hội. Điển hình như một số vụ nhượng quyền sử dụng đất ở Campuchia và các vùng đặc quyền kinh tế ở Myanma, kết quả của tình trạng chiếm dụng đất đai của người dân.

Ngoài ra, việc xây dựng đập thủy điện ở Lào đã phá hụy hệ sinh thái sông Mê Kông, trong khi kế hoạch tái định cư cho cộng đồng ven sông chưa được quan tâm đầy đủ. Các vụ vi phạm quyền lao động trong ngành thủy sản ở Thái Lan đã bị EU và Mỹ phát hiện và danh sách vi phạm cũng đang có dấu hiệu gia tăng.

Do vậy, khi các quốc gia ASEAN hội nhập sâu hơn, chính phủ và doanh nghiệp các nước cần giám sát và đưa ra những dự đoán nhằm tránh các tác động tiêu cực của phát triển kinh tế đối với cho môi trường, xã hội cũng như con người. Và khi xảy ra vấn đề, họ phải có trách nhiệm và kế hoạch cụ thể để giải quyết một cách nhanh chóng và ổn thỏa nhất.

Trách nhiệm xã hội và trách nhiệm giải trình

Trong hơn một thập kỷ qua, trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp đã ngày càng được chú trọng ở quy mô toàn cầu và gần đây được chú trọng hơn ở ASEAN. Hiện vẫn còn những quan điểm khác nhau về điều này, một số thì cho rằng đó là trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (Corporate Social Responsibility – CSR), trong khi số khác lại ủng hộ trách nhiệm giải trình của doanh nghiệp (Corporate Accountability).

Trên thực tế thì đây là hai khái niệm hoàn toàn khác nhau, tuy nhiên, hiện trách nhiệm xã hội đang được biết điến nhiều hơn. Có thể hiểu rằng trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp là những cam kết mang tính tự nguyện, còn trách nhiệm giải trình của doanh nghiệp lại bao gồm các trách nhiệm đã được soạn thảo thành luật và buộc các doanh nghiệp tuân theo; do đó trách nhiệm với môi trường và xã hội hoàn toàn không còn là lựa chọn mà trở thành nghĩa vụ của các doanh nghiệp.

Quan niệm về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp đang thay đổi dần, ít nhất là với những doanh nghiệp tiến bộ. Ban đầu trách nhiệm xã hội được xem là cách các doanh nghiệp đóng góp cho xã hội như một hình thức từ thiện. Điều này đang dần thay đổi đến một nhận thức rằng các doanh nghiệp đã được xã hội “cấp giấy phép hoạt động”, do vậy bên cạnh việc thu lợi cho công ty phải có trách nhiệm đóng góp lại cho xã hội.

Tuy nhiên, nhiều doanh nghiệp hoạt động trong khu vực ASEAN chưa thực hiện trách nhiệm xã hội một cách nghiêm túc. Các quốc gia trong khu vực đã nỗ lực cải thiện tình hình trên thông qua các hoạt động như thành lập Mạng lưới Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp ASEAN, công bố hàng loạt các nghiên cứu của các viện hàn lâm, chính phủ, xã hội dân sự và bản thân các doanh nghiệp; tổ chức các hội thảo, tấp huấn về trách nhiệm xã hội của các doanh nghiệp. Song, dường như các doanh nghiệp vẫn chỉ chăm chăm theo đuổi mục tiêu lợi nhuận.

Đây không phải là điều đáng ngạc nhiên vì hầu hết các quốc gia Đông Nam Á đều phát triển kinh tế dựa vào nguồn nhân công giá rẻ và khai thác nguồn tài nguyên trong và ngoài nước, với thông điệp chính sách là “phát triển trước, khắc phục hậu quả sau”. Các quốc gia đã chú trọng phát triển kinh tế về lượng hơn là về chất. Điều này cho thấy các quốc gia cần quan tâm nhiều hơn đến các dịch vụ công như y tế, giáo dục, môi trường sống song song với phát triển kinh tế.

Theo nguyên tắc, các doanh nghiệp phải tuân thủ luật pháp của quốc gia mà họ đầu tư. Tuy nhiên, mặc dù thời gian qua các quy định về bảo vệ môi trường và xã hội của các quốc gia trong khu vực đã được thắt chặt hơn, sự hoàn thiện pháp luật giữa các quốc gia vẫn chưa tương xứng, vấn đề thực thi luật vẫn chưa đồng bộ. Hiện vẫn còn nhiều khoảng trống chính sách và đôi khi các chính phủ cố ý phớt lờ các vụ vi phạm quyền con người hoặc gây tổn hại tới môi trường để ưu tiên phát triển kinh tế.

Một vấn đề mà nhiều công ty gặp phải khi đầu tư ở nước ngoài là việc luật pháp và việc thực thi luật pháp ở nước chủ nhà không đồng bộ với nước họ. Điều này dẫn đến tình trạng là cùng một kế hoạch dự án nhưng có quốc gia cấp phép, có quốc gia không.

Năm 2009, Tòa án Hành chính tối cao Thái Lan đã tạm thời tước giấy phép 65 dự án với tổng giá trị đầu tư lên đến 8 tỷ USD tại khu công nghiệp Map Ta Phut do các vấn đề liên quan tới các quy định về môi trường và sự phản đối của người dân. Tuy nhiên, cũng tại thời điểm này, một khu công nghiệp gần thị trấn Dawei, Myanmar, rộng gấp 10 lần khu Map Tu Phut đã được chính phủ nước Myanmar cấp giấy phép thi công, nhà thầu chính là một công ty xây dựng có tầm cỡ của Thái Lan.

Rất nhiều đầu tư từ các nước Châu Âu, Nhật Bản và Mỹ vào Đông Nam Á từ những năm 1980 cũng chịu tình trạng tương tự.

Trách nhiệm vượt ra ngoài biên giới

Quan điểm hạn hẹp rằng phải tăng trưởng kinh tế bằng mọi giá sẽ làm suy yếu mục tiêu dài hạn là xây dựng một khu vực ASEAN phát triển bền vững, công bằng và vì toàn dân. Thay vì tập trung vào số lượng, các nước ASEAN nên tập trung vào chất lượng tăng trưởng kinh tế. Để thực hiện điều này, trách nhiệm giải trình của doanh nghiệp thực sự cần thiết.

Qua nhiều thập kỷ, các cuộc thảo luận toàn cầu về trách nhiệm giải trình của doanh nghiệp đối với xã hội, bao gồm cả trách nhiệm đảm bảo quyền con người đã trở nên sôi nổi hơn. Năm 2011, Hội đồng Nhân quyền của Liên hợp quốc đã công bố Các quy tắc hướng dẫn về kinh doanh và quyền con người dựa trên tiêu chí “bảo vệ, tôn trọng và bù đắp” của Giáo sư John Ruggie. Theo đó, các chính phủ phải bảo vệ quyền con người, doanh nghiệp phải tôn trọng quyền con người và cả hai bên phải tìm ra những giải pháp phù hợp để giải quyết các vấn đề về vi phạm các quyền này.

Nếu các doanh nghiệp không thừa nhận nghĩa vụ pháp lý liên quan trực tiếp đến các hiệp ước nhân quyền quốc tế, theo Các quy tắc hướng dẫn trên thì ít nhất các doanh nghiệp cũng cần chứng minh rằng họ tuân thủ đầy đủ quy định pháp luật ở nước sở tại và hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp không gây ra những tác động nghiêm trọng đến quyền con người – ngay cả khi luật pháp nước chủ nhà không quy định. Bên cạnh đó, các doanh nghiệp cũng cần phải có trách nhiệm nhận biết khi chính phủ nước sở tại không làm tốt công tác bảo vệ quyền con người, để tránh trở thành người “đồng lõa” với chính phủ nước chủ nhà.

Các quốc gia cũng phải bảo vệ quyền con người thông qua các hành động cụ thể như hoàn thiện chính sách pháp luật để đảm bảo tính đầy đủ, mạch lạc và khả năng thực thi. Các quốc gia cũng nên theo dõi và cân nhắc các tác động đến quyền con người mà các doanh nghiệp hoạt động trên lãnh thổ nước đó có thể gây ra ở các quốc gia khác – khái niệm này được gọi là “nghĩa vụ ngoài lãnh thổ”. Tuy nhiên, hiện tại, các nghĩa vụ tuân thủ quyền con người ở các nước ASEAN hiện nay chủ yếu chỉ có thể áp dụng với quy mô một nước.

Việc thành lập Ủy ban liên Chính phủ ASEAN về Nhân quyền (AICHR) vào tháng 10/2009 là bước đầu tiên trong quá trình thực hiện “nghĩa vụ ngoài lãnh thổ” của các quốc gia ASEAN. Quy mô khu vực của Ủy ban này có thể góp phần đẩy mạnh việc thực hiện các “nghĩa vụ ngoài lãnh thổ”. Tuy nhiên, trong quá trình hoạt động, Ủy ban này đã gặp phải nhiều khó khăn do sự cam kết của chính phủ các quốc gia trong việc hoàn thiện luật pháp nhân quyền quốc tế là khác nhau. Do vậy, AICHR chủ yếu tập trung vào vai trò nâng cao quyền con người trong thông qua các hoạt động công bố các nghiên cứu về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp và quyền con người. Các tổ chức xã hội dân sự cũng tỏ ra khá thận trọng khi hỗ trợ AICHR vì bản thân họ cũng khó khăn khi tìm hiểu về các vụ việc nghi ngờ có vi phạm quyền con người trong các doanh nghiệp ở khu vực ASEAN do thiếu một sự ủy thác.

Cần áp dụng trách nhiệm giải trình của doanh nghiệp

Hiện chưa có giải pháp hiệu quả nào cho việc chuyển đổi kinh tế ASEAN theo hướng công bằng, bền vững, hướng đến toàn dân. Các cơ chế và cách thức quản trị hiện tại có rất nhiều kẽ hở để các doanh nghiệp có thể lợi dụng và kiếm lời mà không cần quan tâm đến những tác động mà họ gây ra đối với đời sống, sức khỏe và quyền con người. Chính vì vậy, chính phủ, doanh nghiệp, xã hội dân sự và công dân các nước ASEAN cần hành động để thay đổi hệ thống kinh tế hiện nay và hướng tới các mục tiêu đã đề ra.

Điểm mấu chốt để bắt đầu là tập trung hơn vào cách tiếp cận lấy quyền con người làm gốc đối với trách nhiệm giải trình của doanh nghiệp. Trách nhiệm giải trình doanh nghiệp không nên hiểu là khái niệm thay thế cho trách nhiệm xã hội doanh nghiêp, mà nên hiểu rằng trách nhiệm xã hội sẽ cung cấp một nền tảng vững chắc và các tiêu chuẩn tối thiểu để từ đó phát triển lên. Do đó, chính phủ với sự hỗ trợ của các doanh nghiệp, tổ chức dân sự và người dân cần đảm bảo rằng các quy định về xã hội và môi trường là đầy đủ và mang tính thực thi với một hệ thống tư pháp tin cậy và dễ tiếp cận.

ASEAN hướng tới mức lương tối thiểu chung

Nhiều nước ASEAN đã ủng hộ việc áp dụng mức lương tối thiểu chung cho người lao động trong khu vực.

Tờ The Jakarta Post mới đây đưa tin Indonesia sẽ đề xuất việc áp dụng mức lương tối thiểu chung cho người lao động ở các nước thành viên ASEAN khi các bộ trưởng lao động trong khối nhóm họp lần tới. Phó tổng thống Jusuf Kalla của Indonesia đưa ra sáng kiến trên trong bối cảnh có nhiều lo ngại về việc thiếu sự bảo vệ người lao động của các nước ASEAN. “VN rất ủng hộ những điều tôi nói về sự cần thiết phải bảo vệ công dân của mình khỏi bị bóc lột ở các nước ASEAN”, theo Hãng tin Antara dẫn lời ông Kalla tại cuộc họp báo ngày 3.6.

Ông Kalla cho biết các nước còn lại trong khối cũng đã bày tỏ sự quan tâm đến việc tăng mức lương tối thiểu cho người lao động trong khu vực và nói rằng các bộ trưởng lao động từ những quốc gia thành viên ASEAN sẽ sớm nhóm họp để thảo luận về vấn đề này, song ông không tiết lộ thời điểm cụ thể. “Chúng tôi đều nhất trí về vấn đề trên. Campuchia cũng đã đồng ý”, ông Kalla khẳng định, đồng thời nói rằng chính phủ Indonesia không muốn các công ty đa quốc gia lớn ở các nước ASEAN cạnh tranh nhau vì mức lương thấp nhất.

Cũng theo ông Kalla, chính phủ Indonesia sẽ mời Tổng thư ký ASEAN Lê Lương Minh thảo luận vấn đề trên với các nước trong khu vực. “Indonesia, VN và Campuchia đều có nhiều công nhân. Chúng tôi có lẽ cũng hỏi thêm Malaysia và Singapore. Ngay cả Thái Lan cũng đã có mức lương cao rồi”, ông Kalla nói.

Cải thiện đời sống người lao động

“Việc áp dụng mức lương tối thiểu chung cho người lao động trong khu vực ASEAN sẽ giúp bảo vệ họ, đặc biệt là những người làm trong ngành may mặc, sản xuất giày dép”, Phó tổng thống Kalla nhấn mạnh và nói với Hãng tin Antara: “Lẽ ra nên có thỏa thuận rằng không ai trong chúng ta (ASEAN) cạnh tranh bằng cách hạ thấp mức lương tối thiểu mà thay vào đó sẽ cạnh tranh để đạt được năng suất tốt”.

Phó tổng thống Indonesia cũng thừa nhận việc thiếu mức lương tối thiểu chung ở các nước ASEAN khiến các phúc lợi xã hội của họ bị thua kém so với lực lượng lao động ở các khu vực khác. Ngoài ra, việc này cũng gây ảnh hưởng đến sức mua và nền kinh tế chung của từng quốc gia ASEAN. Thực tế cho thấy không có chính sách về mức lương tối thiểu đã dẫn đến thu nhập của người dân bị sụt giảm, đặc biệt là công nhân, do sự cạnh tranh giữa các nước ASEAN.

Trước đó, tại Diễn đàn kinh tế thế giới về chủ đề ASEAN diễn ra ở thủ đô Kuala Lumpur (Malaysia) từ ngày 1 - 2.6, ông Kalla cũng đã đề xuất áp dụng mức lương tối thiểu chung cho người lao động ở các nước thành viên để tạo sự bình đẳng trong khu vực. “Việc đảm bảo không có sự cạnh tranh thiếu lành mạnh trong ASEAN là rất quan trọng”, ông Kalla phát biểu bên lề hội nghị.

Phó tổng thống Indonesia dẫn chứng nhiều hãng sản xuất giày dép và sản phẩm may mặc đã chuyển nhà máy sang Indonesia, VN và Campuchia vì lương công nhân ở những nơi này thấp. Ông viện dẫn: “Chẳng hạn, họ sản xuất đôi giày hoặc cái áo/quần với giá 15 USD nhưng lại bán chúng với giá 100 USD. Không thể để chúng ta bị chơi xỏ như vậy. Chúng ta hãy cùng hành động để những người lao động không bị bóc lột”.

Thị thực chung ASEAN

ASEAN đang hướng đến mở đường cho người từ ngoài khối có thể đi đến bất cứ quốc gia thành viên nào chỉ với một thị thực.

Ý tưởng về thị thực chung là một trong những vấn đề được quan tâm hàng đầu tại Diễn đàn du lịch ASEAN diễn ra mới đây ở thủ đô Manila, Philippines với sự tham dự của bộ trưởng du lịch các nước thành viên.

Bắt đầu từng cặp quốc gia

Mô hình thị thực Schengen

Theo Đại sứ quán Pháp tại Hà Nội, nếu khách lưu trú ở nhiều quốc gia trong khối thị thực chung Schengen tại EU cần nộp hồ sơ xin thị thực tại cơ quan lãnh sự là “điểm đến chính” của chuyến đi. Quốc gia “điểm đến chính” là nơi mà ở đó khách sẽ thực hiện mục đích chính của chuyến đi. Còn mục đích của chuyến đi là giống nhau trong tất cả các quốc gia sẽ đặt chân đến, thì quốc gia “điểm đến chính” là nơi mà khách sẽ lưu lại lâu nhất.

Nếu hai mục đích trên đều giống nhau, quốc gia “điểm đến chính” là nơi mà khách sẽ đặt chân xuống đầu tiên. Hiện nay có 26 nước châu Âu dùng chung một thị thực Schengen.

Trước mắt, việc triển khai thị thực chung có thể bắt đầu bằng cách áp dụng cho từng cặp thành viên ASEAN có chính sách tương đồng với nhau nhất, chẳng hạn Thái Lan - Campuchia, Việt Nam - Lào... Thực tế, đây không phải là đề xuất mới, bởi Việt Nam từng chủ trì kết nối du lịch các nước hạ nguồn Mê Kông bằng việc dùng chung một thị thực để tận dụng nguồn du khách ngoại khối.

Cụ thể, năm 2013, tại Hội nghị Bộ trưởng Du lịch hạ nguồn Mê Kông gồm Việt Nam, Lào, Campuchia, Myanmar và Thái Lan (ACMECS) ở TP.HCM, lãnh đạo ngành du lịch các nước đã tập trung tìm giải pháp cho vấn đề hợp tác cốt lõi là một thị thực chung cho 5 nước.

Tuy nhiên, trong khi các nước còn loay hoay tìm phương thức triển khai thì giữa Thái Lan và Campuchia đã hiện thực hóa chính sách thị thực chung song phương. Thời điểm đó, Thái Lan kêu gọi các nước còn lại trong ACMECS tham gia chương trình “5 quốc gia 1 thị thực” để thúc đẩy đi lại tự do.

Quá trình triển khai giữa Thái Lan và Campuchia từng gặp không ít trở ngại do có nhiều vấn đề không thuộc quản lý của ngành du lịch. Chính phủ Campuchia phải thành lập một ủy ban nhiều bộ ngành để thúc đẩy thực thi visa chung với Thái Lan do bộ trưởng du lịch làm chủ tịch. Cho đến nay, du khách từ 35 quốc gia và vùng lãnh thổ được hai nước thống nhất áp dụng chung một thị thực. Với chính sách này, khách du lịch có thể xin thị thực tại Thái Lan hoặc Campuchia, sau đó có thể lưu trú ở cả hai nước. Đây có thể được xem là ví dụ điển hình để các quốc gia còn lại trong ASEAN học hỏi kinh nghiệm.

Đôi bên cùng có lợi

Chuyên gia du lịch Huỳnh Văn Sơn cho rằng việc triển khai thị thực chung ASEAN sẽ đem lại lợi ích cho tất cả các thành viên khi có thể san sẻ nguồn khách lẫn nhau.

“Đây là hợp tác win - win (đôi bên cùng có lợi), chứ không riêng những nước có nguồn khách dẫn đầu như Malaysia hay Thái Lan... Đối với điều kiện du lịch Việt Nam hiện nay, việc dỡ bỏ các rào cản về thị thực là cần thiết để thu hút du khách quốc tế. Tâm lý du khách là mong muốn được thuận lợi tối đa trong vấn đề xin thị thực. Do đó, nếu chỉ xin một thị thực rồi đi được cùng lúc nhiều quốc gia trong ASEAN sẽ thúc đẩy tăng trưởng du khách cho các nước thành viên, đồng thời khuyến khích khách đi du lịch dài ngày hơn, chi tiêu nhiều hơn trong hành trình và dòng luân chuyển khách sẽ đều đặn hơn”, ông phân tích.

Theo ông Sơn, các nước có nguồn khách thấp hơn trong ASEAN như VN không thể có chuyện bị thiệt thòi khi dùng chung thị thực với các nước khác. Vì thực tế, du lịch VN vẫn đang có sức cạnh tranh tương đối. Cơ hội san sẻ nguồn khách với các nước trong ASEAN là có nếu du lịch VN giải quyết được những tồn tại về môi trường điểm đến và quảng bá, kinh doanh hiệu quả.

Phó viện trưởng Viện Nghiên cứu phát triển du lịch Phạm Trung Lương nhận định ý tưởng dùng chung thị thực cho ASEAN là khả thi nhưng việc triển khai không hề dễ dàng. Các quốc gia phải vượt qua được “cái tôi” của mỗi nước, đó là vượt qua lợi ích riêng để tiến tới lợi ích chung của toàn khối.

Ông Lương ví dụ khi áp dụng visa chung, du khách chọn nước nào để xin thị thực vào đầu tiên thì nước đó được hưởng lợi nhiều hơn. Dẫn tới việc các quốc gia kém thu hút hơn về điểm đến, hạ tầng giao thông chưa hoàn thiện sẽ chịu thiệt thòi hơn. Chẳng hạn, khách Mỹ khi đến ASEAN có thể sẽ vào Thái Lan đầu tiên, vì nơi này có sân bay quốc tế lớn và dịch vụ du lịch hấp dẫn, sau đó sẽ đến Campuchia hoặc Lào và về nước từ Việt Nam.

“Nếu lợi ích này chưa được giải quyết thì xung đột sẽ xảy ra, cản trở quá trình thực hiện chung một thị thực của ASEAN. Nếu vượt qua “cái tôi” này, các nước lại phải xử lý vấn đề nan giải khác là rào cản an ninh do hiện tại, mỗi thành viên ASEAN có chính sách miễn thị thực khác nhau, số lượng nước được miễn không đồng đều. Singapore, Thái Lan, Malaysia, Philippines, Campuchia, Indonesia đã miễn thị thực cho trên dưới 100 quốc gia, trong khi Việt Nam lại rất ít. Nếu vượt qua khó khăn này, các nước lại phải thống nhất một vấn đề khác là hệ thống an ninh chung. Sự khác biệt lớn về diện miễn thị thực này có thể sẽ làm kéo dài quá trình sử dụng chung một thị thực cho toàn khối”, ông Lương phân tích.

Nguồn : Asem/WTO/Bloomberg…

Từ khóa : Tổng hợp, tình hình, Cộng đồng kinh tế ASEAN, trong tháng 6/2016.

Chuyên mục RCEP

JSN_TPLFW_TOGGLE_MENU

Tin tức

JSN_TPLFW_TOGGLE_MENU

Thư viện hội nhập

thu vien


phong ve thuong mai

Video

Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field

Liên kết

 

Lượt truy cập

008790365
Go to top