JSN_TPLFW_TOGGLE_MENU
Tin tứcChủ động tránh bẫy phòng vệ thương mại trong dệt may

Chủ động tránh bẫy phòng vệ thương mại trong dệt may

dệt may 8

Khi hàng rào thuế quan được dỡ bỏ trong các hiệp định thương mại tự do thì cũng là lúc các hàng rào phi thuế quan sẽ được dựng lên. Nhiều ý kiến cho rằng, ngành dệt may sẽ được hưởng lợi khi Việt Nam tham gia các định thương mại tự do, do hàng rào thuế quan được dỡ bỏ. Thực tế không hẳn vậy.

Nguy cơ từ hàng rào phi thuế quan

Trong lĩnh vực dệt may, hiện nay 90% lượng hàng xuất khẩu là đưa vào các thị trường mà Việt Nam đã tham gia ký kết các hiệp định thương mại tự do (FTA). Chẳng hạn chúng ta đã xuất 64,7% lượng hàng xuất khẩu dệt may vào khối TPP; riêng Mỹ là 48%, Nhật Bản 12%, EU 15%, Hàn Quốc 10%… Việc ký kết các FTA được kỳ vọng sẽ mang đến khả năng bứt phá mạnh mẽ cho ngành dệt may khi hàng rào thuế quan dần được dỡ bỏ. Tuy nhiên, thực tế không đơn giản vậy.

Bà Nguyễn Chi Mai, Trưởng phòng xử lý các vụ kiện phòng vệ thương mại của nước ngoài, Cục Quản lý cạnh tranh (Bộ Công Thương) khẳng định, khi các hàng rào thuế quan được dỡ bỏ thì các hàng rào phi thuế quan sẽ được dựng lên để bảo hộ sản xuất trong nước. Trong đó, 3 công cụ phòng vệ thương mại được các nước áp dụng chủ yếu là: chống bán phá giá, chống trợ cấp và tự vệ. Đây cũng được coi là “bộ ba” ngoại lệ trong quy định của WTO về tự do hóa thương mại quốc tế. Chống bán phá giá là công cụ được sử dụng nhiều nhất trong các biện pháp phòng vệ thương mại trên thế giới, thường được áp dụng bởi các quốc gia phát triển như Mỹ, Nhật, EU… Trong khi đó các biện pháp tự vệ lại chủ yếu được thực hiện bởi các quốc gia đang phát triển, nhằm bảo vệ nền sản xuất còn non yếu trong nước của mình.

Tính đến tháng 12/2014, có 346 vụ điều tra chống bán phá giá liên quan đến sản phẩm dệt may, chiếm 8% tổng vụ việc chống bán phá giá mà doanh nghiệp Việt Nam vướng phải, trong đó tại Ấn Độ 67 vụ, Thổ Nhĩ Kỳ 50 vụ, EU 43 vụ, Brazil 24 vụ… Các vụ kiện chống bán phá giá thường kéo dài từ 12 tháng, tối đa là 18 tháng và rất phức tạp. Trong suốt quá trình diễn ra vụ kiện, doanh nghiệp phải tốn nhiều thời gian, công sức, tiền bạc để chuẩn bị hồ sơ, luật sư, tìm hiểu lại về quy định của nước nhập khẩu, chi phí vận động hành lang… Tất cả những việc làm này cùng với rào cản về ngôn ngữ dễ khiến doanh nghiệp nản lòng mà bỏ cuộc.Thậm chí có doanh nghiệp bỏ cuộc giữa chừng, tiền mất mà vẫn không đạt được kết quả như mong muốn.

Theo bà Mai, trong các vụ kiện phòng vệ thương mại, không ai khác, chính doanh nghiệp là người hiểu rõ mình nhất, bảo vệ quyền lợi tốt nhất cho chính mình chứ không cần lệ thuộc vào chính phủ hay bên thứ 3. Vì vậy, dù tiêu tốn nhiều tiền bạc, thời gian và công sức, các doanh nghiệp nên đeo đuổi vụ việc đến cùng, bà Mai khuyến nghị.

Nếu không đáp ứng được quy tắc xuất xứ từ sợi trở đi, mọi quy định dỡ bỏ thuế quan cũng trở nên vô nghĩa

“Cho dù không phải là thị trường trọng điểm thì doanh nghiệp cũng phải bảo vệ quyền lợi của mình trong các vụ kiện chống bán phá giá dù nhỏ nhất, bởi kết quả tích cực trong các vụ kiện đó sẽ tạo ra một tiền lệ tốt, tạo danh tiếng tốt cho doanh nghiệp và qua đó xây dựng vị thế cạnh tranh rất tốt cho doanh nghiệp khi tham gia vào các thị trường khác. Nếu doanh nghiệp thắng kiện ở một thị trường nào đó thì sẽ dễ dàng vượt qua các vụ kiện tương tự ở các thị trường”, bà Mai cho hay.

Một ví dụ điển hình do ông Lý Anh Tài, Giám đốc điều hành Tổng công ty cổ phần Phong Phú kể. Vào cuối năm 2012 đầu 2013, Dệt Phong Phú dính phải vụ kiện chống phá giá mặt hàng sợi tại thị trường Thổ Nhĩ Kỳ. Ban đầu, Dệt Phong Phú khá lúng túng khi tham gia vụ kiện, do các thông tin liên quan hết sức mơ hồ. Tuy nhiên, Dệt Phong Phú đã quyết tâm đeo đuổi vụ kiện với sự chuẩn bị kỹ lưỡng, minh bạch hồ sơ, sổ sách chi tiết đầu vào, đầu ra và chứng minh được với đối tác mình “trong sạch”. Kết quả là sau vụ kiện, Dệt Phong Phú chỉ bị áp thuế 20%, còn những doanh nghiệp khác không đáp ứng yêu cầu hoặc không tham gia vụ kiện thì bị áp thuế 30%. “Khi xuất khẩu tăng lên thì chắc chắn kiện tụng cũng sẽ gia tăng. Kinh nghiệm rút ra là doanh nghiệp luôn phải chuẩn bị sẵn sàng để có thể ứng phó bất cứ lúc nào”, ông Tài đúc rút.

Liên kết hay là chết

Bà Nguyễn Thị Điền, Tổng giám đốc Công ty An Phước cho biết, cho đến nay vải nguyên liệu công ty sử dụng vẫn nhập khẩu 100%. Nguyên phụ liệu ban đầu cũng phải nhập 100%, nhưng đang được nội địa hóa dần từ cúc áo, dây kéo đến chỉ may là… Công ty đang thay đổi cơ cấu bộ máy để có thể tận dụng được lợi thế trong TPP và bà khẳng định, doanh nghiệp phải dần nội địa hóa mới cạnh tranh được.

Tiến sĩ Trương Văn Cẩm, Phó chủ tịch kiêm Tổng thư ký Hiệp hội Dệt May Việt Nam cho biết: “Một trong những tác động quan trọng của TPP, đó là tạo điều kiện cho ngành dệt may Việt Nam cơ cấu lại: thu hút đầu tư vào khâu thượng nguồn thay vì chỉ làm gia công và rơi vào bẫy sản xuất với giá trị gia tăng thấp. Trong chuỗi cung ứng dệt may, Việt Nam đang nằm ở đáy chuỗi với các khâu có giá trị gia tăng thấp”.

hình 9-5

Bà Bùi Kim Thùy, Phó trưởng phòng Xuất xứ hàng hóa – Cục Xuất Nhập khẩu (Bộ Công Thương) cũng cho rằng, quy tắc áp dụng cho ngành dệt may khó nhất chính là TPP, bởi nếu không đáp ứng được quy tắc xuất xứ từ sợi trở đi, mọi quy định dỡ bỏ thuế quan cũng trở nên vô nghĩa.

 

Hiện đang tồn tại một nghịch lý: trong khi các doanh nghiệp may mặc trong nước đang phải nhập khẩu nguyên liệu vải sợi thì các nhà sản xuất vải sợi trong nước lại chủ yếu xuất ra thị trường nước ngoài. Tiến sĩ Trương Văn Cẩm cho biết, Việt Nam đang xuất khoảng 1 tỷ USD vải/năm, nhưng các doanh nghiệp trong nước cũng nhập mức tương ứng. Bên cạnh đó, theo ông Cẩm, dù gia công xuất khẩu mạnh, nhưng Việt Nam vẫn xuất khẩu qua trung gian nhiều chứ chưa xuất khẩu được trực tiếp. Vì vậy, riêng việc các đơn vị trung gian chỉ định nguồn cung cấp vải cũng làm cho chúng ta thua thiệt.

Ông Nguyễn Văn Hùng, Tổng giám đốc Tổng công ty 28 nêu ra nghịch lý, trong ngành sợi cách đây 5 năm, các doanh nghiệp nội địa chiếm 60%, các doanh nghiệp FDI là 40%. Nhưng cho đến nay, doanh nghiệp FDI đã chiếm 70%, doanh nghiệp trong nước chỉ còn 30%. Tổng số cọc sợi đầu tư tại Việt Nam hiện là con số 7 triệu, trong đó 70% dùng để xuất khẩu, chỉ 30% dùng ở trong nước (70% doanh nghiệp trong số 30% này làm gia công và FOB theo chỉ định). Trong khoảng 40% nguyên liệu dệt may trong nước đáp ứng được chuỗi cung ứng cho doanh nghiệp may mặc thì chủ yếu là dùng cho hàng dệt kim, công nghệ đơn giản, còn hàng dệt thoi thì 70-80% nguyên vật liệu phải nhập khẩu. “Doanh nghiệp cung cấp nguyên liệu chủ yếu là doanh nghiệp vừa và nhỏ, công nghệ lạc hậu, mẫu mã nghèo nàn, hầu hết nhận hàng khi đã có mẫu chứ hiếm khi có thể chủ động thiết kế mẫu cho khách hàng”. Đây là những nguyên nhân khiến việc liên kết giữa doanh nghiệp cung ứng nguyên liệu với doanh nghiệp may mặc trong nước khó thực hiện được.

Bên cạnh đó, một lý do khác, theo ông Hùng, chính là việc đầu tư cho sản xuất nguyên liệu dệt may rất tốn kém trong khi thu hồi vốn chậm. “Đầu tư vào nhà máy may thì khoảng 15-20 tỷ đồng đã được, còn đầu tư cho nguyên liệu thì đòi hỏi vốn rất lớn. Chẳng hạn công ty chúng tôi đầu tư 50 triệu đô la cho dây chuyền nhuộm 12 triệu mét vải/năm”, ông Hùng dẫn chứng.

Ông Nguyễn Đình Trường, Phó chủ tịch Hiệp hội Dệt May Việt Nam khẳng định: “Trong cạnh tranh toàn cầu, doanh nghiệp buộc phải liên kết chuỗi, bởi đây là xu hướng tất yếu”. Theo ông Trường, muốn liên kết chuỗi thì doanh nghiệp phải có sự ràng buộc lẫn nhau về lợi ích thì mới làm được.

Câu chuyện đôi bên cùng có lợi trong lĩnh vực dệt may lại được đặt ra trong bối cảnh hội nhập ngày càng sâu rộng. Liên kết hay là chết phụ thuộc vào chính sự lựa chọn của mỗi doanh nghiệp

Nguồn : baomoi.com-Đăng Cường

Từ khóa : Chủ động, tránh bẫy, phòng vệ thương mại, trong dệt may.

Chuyên mục RCEP

JSN_TPLFW_TOGGLE_MENU

Tin tức

JSN_TPLFW_TOGGLE_MENU

Thư viện hội nhập

thu vien


phong ve thuong mai

Video

Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field

Liên kết

 

Lượt truy cập

008789925
Go to top