JSN_TPLFW_TOGGLE_MENU
Tin tứcTổng hợp, phân tích hiệp định TPP trong tháng 3/2016

Tổng hợp, phân tích hiệp định TPP trong tháng 3/2016

TPP-7

Trong tháng 3/2016, tin tức phân tích hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) khá tích cực.

Sở hữu trí tuệ trong TPP và câu chuyện thuốc biệt dược

Ngành dược được dự báo là một trong những ngành bị ảnh hưởng khá lớn khi TPP có hiệu lực, do thuế suất kéo các mặt hàng thuốc xuất nhập khẩu về 0% và nhất là bản quyền thuốc được thực thi nghiêm ngặt.

Việc thực hiện bảo hộ bản quyền trong TPP dự đoán sẽ ảnh hưởng đến thị trường sản xuất thuốc generic trong nước (thuốc hết thời gian bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ).

Tại buổi tọa đàm trực tuyến “Sở hữu trí tuệ trong TPP” của Cổng TTĐT Chính phủ diễn ra sáng nay (23/3), bà Vũ Thị Thuận, Chủ tịch Hội đồng quản trị Công ty cổ phần Traphaco đưa ra quan điểm về việc sản xuất thuốc generic, đặc biệt là thuốc biệt dược.

Theo bà Thuận, khi hết thời gian bảo hộ, nếu các doanh nghiệp nắm được, sao chép lại công thức để làm ra loại thuốc tương tự, có giá thành thấp để sử dụng cho cộng đồng, thì người dân sẽ có lợi, nhất là người nghèo sẽ có nhiều cơ hội để sử dụng các loại thuốc biệt dược để điều trị.

Nếu TPP quy định thời gian bảo hộ kéo dài, các doanh nghiệp trong nước sẽ giảm cơ hội tiếp cận sản xuất thuốc generic. Nếu thời hạn không quá dài, nhưng các nhà độc quyền tìm cách cải tiến, thay đổi một vài chi tiết nhỏ trong sản phẩm để kéo dài thời gian bảo hộ… cũng khiến nhà sản xuất trong nước khó có cơ hội sản xuất loại thuốc đó.

“Với những cam kết của TPP, nếu ta chậm trễ thì lợi ích của cả cộng đồng sẽ bị kéo dài, thuốc độc quyền (biệt dược) thì giá cao. Phải làm sao để chúng ta có thời gian ngắn nhất tiếp cận các loại thuốc biệt dược, nắm được thời gian hết hạn bảo hộ khi người chủ sở hữu chưa kéo dài thời gian bảo hộ để giảm giá các loại thuốc này”, bà Vũ Thị Thuận nói.

Đồng tình với bà Thuận, ông Lê Ngọc Lâm, Phó Cục trưởng Cục Sở hữu trí tuệ (Bộ KH&CN) cho rằng, nếu các doanh nghiệp nắm được danh sách những loại thuốc quý hết thời gian bảo hộ sở hữu trí tuệ thì: “Ta sẽ rút ngắn được thời gian và tiền bạc cho quá trình nghiên cứu”.

Tuy nhiên, việc sao chép này không hề dễ dàng, vì thế các nhà nghiên cứu cần tham khảo dựa trên nguồn tư liệu đó để tạo ra sản phẩm tương tự, hoặc một sản phẩm mới, là việc rất quan trọng - ông Lâm chia sẻ.

Tuy nhiên, Thứ trưởng Bộ Công Thương Trần Quốc Khánh cho rằng, không nên đưa câu chuyện người nghèo vào vấn đề sử dụng thuốc biệt dược để chữa bệnh, vì chúng ta có hệ thống an sinh xã hội và khi vào bệnh viện thì các bác sĩ không phân biệt người giàu hay người nghèo.

“Không nên vì lý do đất nước đang nghèo mà vi phạm sở hữu trí tuệ với thuốc biệt dược hay bất kỳ loại thuốc nào”, Thứ trưởng Trần Quốc Khánh nói.

Trên bình diện giá thành, ông Vũ Ngọc Lâm cho biết, chúng ta còn những biện pháp khác để tiếp cận và kiểm soát các loại thuốc biệt dược.

“Trong Luật Sở hữu trí tuệ còn có những công cụ khác, ví dụ như ta có thể cấp quyền sử dụng không theo mong muốn của chủ sở hữu bằng sáng chế. Cụ thể, trong tình huống khẩn cấp, Nhà nước có thể yêu cầu chủ sở hữu trao quyền cho một doanh nghiệp khác nếu doanh nghiệp đó có thể cung cấp thuốc đó cho cộng đồng.

Bên cạnh đó, ta cũng đưa vào luật cho phép các doanh nghiệp được nhập khẩu song song, bảo đảm giá thuốc biệt dược không bị độc quyền và không cao một cách quá đáng”, ông Vũ Ngọc Lâm nói.

Thứ trưởng Trần Quốc Khánh cho rằng, khi vào TPP, Việt Nam có 2 nhóm việc phải làm là xây dựng khuôn khổ pháp lý mới và thực thi pháp luật.

“Việc xây dựng khuôn khổ pháp lý các bộ, ngành sẽ làm, nhưng quan trọng nhất là việc tăng cường năng lực thực thi pháp luật. Về sở hữu trí tuệ, chúng ta đã thực hiện từ năm 1982 đến nay đã 34 năm, nhưng việc thực thi đang có vấn đề.

Nếu ta không nâng cao năng lực thực thi hay không thể thực thi được thì các nước sẽ không đầu tư và cũng không chia sẻ tri thức cho chúng ta. Đã đến lúc chúng ta cần phải tôn trọng sản phẩm của chất xám, thay đổi tư duy “dùng chùa” thì mới phát triển được.

Đối với ngành dược, việc hoàn thiện và tăng cường công tác bảo hộ quyền sở hữ trí tuệ sẽ mở ra cơ hội thu hút đầu tư vào lĩnh vực thuốc sinh học, nhất là với vaccine”, ông Trần Quốc Khánh nhấn mạnh.

Bên cạnh đó, Thứ trưởng Bộ Công Thương cũng nhận định, TPP sẽ có những tác động nhất định đến Chiến lược quốc gia phát triển ngành dược Việt Nam giai đoạn đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030, bởi trong đó nêu quan điểm phát triển xây dựng nền công nghiệp dược là tập trung đầu tư phát triển sản xuất thuốc generic bảo đảm chất lượng, giá hợp lý, từng bước thay thế thuốc nhập khẩu.

TPP: Lập tức loại bỏ thuế quan cho 85% các sản phẩm cao su

Dự kiến hiệp định đối tác kinh tế xuyên Thái Bình Dương (TPP) sẽ lập tức xoá bỏ thuế quan cho khoảng 85% các sản phẩm cao su. Các sản phẩm còn lại sẽ được loại bỏ thuế hoàn toàn trong vòng 16 năm kể từ khi hiệp định TPP được triển khai thực hiện vào năm 2018.

Theo Hội đồng xúc tiến xuất khẩu cao su Malaysia (MREPC), nhờ vào việc hạ thấp hàng rào thuế quan theo hiệp định TPP, ngành công nghiệp cao su Malaysia sẽ gia tăng sức cạnh tranh trong thị trường TPP.

Nhờ vậy, các công ty Malaysia sẽ có nhiều lợi thế hơn so với các đối thủ trong khu vực Châu Á như Thái Lan, Trung Quốc, Indonesia, Ấn Độ và Sri Lanka khi xuất khẩu các sản phẩm cao su sang các nước thành viên TPP lớn như Mỹ, Canada, Mexico, và Úc.

MREPC cho biết, trong năm 2014 tổng giá trị các sản phẩm cao su nhập khẩu (gồm lốp xe, găng tay, giày dép và các sản phẩm công nghiệp) của 12 nước thành viênTPP ước tính khoảng 96 tỷ USD so với tổng giá trị cao su nhập khẩu trên toàn thế giới là 269 tỷ USD.

Các quốc gia TPP có nhu cầu khá lớn đối với các sản phẩm cao su. Lượng hàng cao su nhập khẩu vào các nước này hiện đang chiếm khoảng 36% tổng lượng nhập khẩu của thế giới, và Malaysia là một trong mười nhà xuất khẩu các sản phẩm cao su hàng đầu sang thị trường các nước TPP.

Trong khi đó, Bộ Thương mại Quốc Tế và Công nghiệp Malaysia (Miti) cũng loại trừ khả năng những nước xuất khẩu sản phẩm cao su lớn khác như Thái Lan và Indonesia sẽ sớm gia nhập hiệp định TPP.

Theo Miti, việc các nước này gia nhập hiệp định TPP trong tương lai gần là không thể xảy ra, vì hiệp định TPP sẽ không chấp nhận các thành viên mới cho đến khi có hiệu lực. Malaysia sẽ đạt được nhiều lợi thế do là nước tiên phong ký kết hiệp định thương mại này.

Các quốc gia khác muốn tham gia hiệp định TPP ở giai đoạn sau này sẽ phải đàm phán các điều khoản cá nhân với các thành viên của TPP.

Về vấn đề liên quan đến các quy định lao động và môi trường, Miti cho biết một số chính sách nhất định của Malaysia sẽ bị phân loại là các luật pháp và quy định nội địa, do đó những chính sách này sẽ không thể áp dụng theo hiệp định TPP. Hiệp định TPP sẽ đảm bảo rằng tất cả các nước thành viên phải tuân thủ các tiêu chuẩn quốc tế về vấn đề lao động và môi trường.

Miti cũng cho biết hiệp định TPP là an toàn đối với các doanh nghiệp Malaysia, đặc biệt là các doanh nghiệp vừa và nhỏ.

TPP có ý nghĩa như thế nào đối với các nước Mỹ La-tinh và Ca-ri-bê?

Ngày 04/2/2016, sau 05 năm đàm phán, các thành viên tham gia Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) đã ký nội dung lời văn văn bản hiệp định tại New Zealand.

TPP được coi là hiệp định thương mại với những tiêu chuẩn cao nhất cho đến thời điểm hiện tại, không chỉ bao gồm các biện pháp truyền thống như giảm hoặc xóa bỏ hàng rào thuế quan mà còn bao gồm các quy định về tạo thuận lợi thương mại, hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ (SMEs), viễn thông, thương mại dịch vụ sáng tạo (bao gồm cả công nghệ kỹ thuật số), các vấn đề về sự gắn kết pháp lý và năng lực cạnh tranh cũng như các tiêu chuẩn cao về lao động, môi trường, tiêu chuẩn vệ sinh và kiểm dịch thực vật hay vấn đề bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ (IPR).

Ngoài các tiêu chuẩn cao, điều đáng chú ý là với các thành viên tham gia (Australia, Brunei, Canada, Chile, Mỹ, Nhật Bản, Malaysia, Mexico, New Zealand, Peru, Singapore và Việt Nam), TPP chiếm tới 40% GDP toàn cầu, 26% thương mại quốc tế và 10% dân số thế giới. Nếu được phê duyệt TPP sẽ là thành tựu quan trọng nhất của thương mại toàn cầu kể từ khi kết thúc Vòng đàm phán Uruguay trong khuôn khổ Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) từ năm 1994.

Thỏa thuận với phạm vi và quy mô rộng lớn này sẽ có những tác động quan trọng đến các nước khu vực Mỹ La-tinh và Ca-ri-bê (LAC) cũng như cấu trúc chung của hệ thống thương mại toàn cầu.

Kể từ khi bắt đầu Vòng đàm phán Doha, các cuộc đàm phán ở cấp độ đa phương đã rơi vào đình trệ mặc dù các thành viên WTO đã đạt được gói Bali vào năm 2013 với các vấn đề hẹp hơn được kết luận. Một số tiến triển khác cũng đã đạt được vào năm ngoái tại Hội nghị Bộ trưởng WTO diễn ra tại Nairobi, Kenya - nơi các thành viên WTO thông qua gói Nairobi giải quyết các vấn đề liên quan đến trợ cấp nông nghiệp, bông và các nước kém phát triển (LDCs). Cụ thể, gói Nairobi bao gồm cam kết loại bỏ trợ cấp xuất khẩu, miễn thuế và hạn ngạch tiếp cận thị trường đối với hoạt động xuất khẩu bông từ các nước LDCs, một số ưu đãi và hỗ trợ kỹ thuật đối với một số hàng hóa và dịch vụ nhất định từ các nước phát triển dành cho nhóm nước LDCs. Ngoài ra, Hiệp định tạo thuận lợi cho thương mại cũng có bước tiến mới khi có thêm 6 nước đã thực hiện phê chuẩn. Tuy nhiên, Chương trình nghị sự phát triển Doha, được bắt đầu hơn 10 năm trước, vẫn không thấy dấu hiệu hồi sinh.

Tiếp cận từng phần ở cấp độ đa phương đồng nghĩa với việc các quy tắc quốc tế chi phối thương mại và đầu tư đã không kịp cập nhật để giải quyết những vấn đề thương mại hiện đại hay nói cách khác vẫn còn thiếu một khuôn khổ để giải quyết các vấn đề rào cản phi truyền thống. Kết quả là nhiều nước đã đi trước một bước chuyển sang đàm phán các thỏa thuận thương mại khu vực hay đa phương nhằm thay đổi chính sách và thủ tục cho phù hợp với tiến trình tự do hóa thương mại. TPP chính là thành quả đáng kể nhất cho đến nay về phạm vi và mức độ bao phủ, do đó nó sẽ đóng một vai trò quan trọng trong việc định hình lại hệ thống thương mại quốc tế nhằm đáp ứng tốt hơn nhu cầu của các doanh nghiệp và chính phủ.

Đối với LAC, Châu Á và Thái Bình Dương đã trở thành một đối tác thương mại quan trọng khi khu vực này đã phát triển thành khu vực có đóng góp quan trọng vào tăng trưởng kinh tế toàn cầu. Do đó, TPP là cơ hội để thúc đẩy hơn nữa thương mại liên khu vực thông qua cơ hội tiếp cận thị trường mới tại châu Á và Thái Bình Dương cũng như nâng cấp mối quan hệ hiện tại khi bao hàm nhiều vấn đề mang tính toàn diện hơn trong thương mại và đầu tư - những chủ điểm quan trọng nhất đối với thương mại thế kỷ 21.

TPP và hàm ý đối với hệ thống thương mại toàn cầu

TPP là hiệp định đầu tiên trong nhiều thập kỷ tập hợp một nhóm các nước với quy mô và trình độ phát triển kinh tế khác nhau liên kết lại tạo ra những tiêu chuẩn cao. Với một mục tiêu đầy tham vọng. Không ngạc nhiên khi một số ý kiến chỉ trích cho rằng hiệp định này là không công bằng cho một số quốc gia, một số ngành công nghiệp hay nhà sản xuất. Tuy nhiên, ảnh hưởng sẽ tùy thuộc vào quy mô và thành phần kinh tế của mỗi nước thành viên nhưng rõ ràng về tổng thể TPP sẽ mang lại hiệu ứng kinh tế tích cực cho các nước tham gia.

Điều này được thể hiện qua phân tích định lượng gần đây của Viện Kinh tế Quốc tế Peterson (PIIE) và Ngân hàng Thế giới (WB).

PIIE phân tích sâu văn bản của TPP và sử dụng mô hình cân bằng tổng thể (CGE) để dự báo các tác động đến tăng trưởng và thương mại toàn cầu trong 15 năm tới. Kết quả cho thấy xuất khẩu hàng năm của các nước thành viên TPP sẽ tăng 1.025 tỷ USD (tương đương 11,5%), đầu tư trực tiếp nước ngoài mới tăng 446 tỷ USD (tương đương 3,5%) và thu nhập thực tế tăng 465 tỷ USD (tương đương 1,1%). Nghiên cứu của WB tương tự cũng dự báo GDP của các nước thành viên TPP sẽ tăng từ 0,4% đến 10%, gia tăng xuất khẩu từ 5% đến 30% vào năm năm 2030.

Mặc nghiên cứu của PIIE và WB sử dụng phương pháp và các giả định khác nhau, cả hai đều kết luận rằng những lợi ích từ tự do thuế quan, sắp xếp hợp lý các biện pháp phi thuế và loại bỏ các rào cản FDI sẽ có tác động tích cực và hạn chế hiệu ứng tiêu cực lên các nền kinh tế.

Ngoài những kết quả phân tích định lượng, TPP cũng có ý nghĩa quan trọng đối với cấu trúc thương mại toàn cầu. Thứ nhất, TPP liên kết một số mắc xích còn thiếu trong mạng lưới FTA toàn cầu. Thứ hai, TPP giải quyết vấn đề chồng chéo giữa một số FTA đang có hiệu lực. Và cuối cùng, TPP khắc phục những lỗ hổng về nguyên tắc trong thương mại quốc tế.

Số lượng các FTA đã tăng lên nhanh chóng trong 2 thập kỷ qua và tạo ra một mạng lưới rộng lớn các hiệp định song phương, đa phương kết nối các đối tác thương mại ở những khu vực khác nhau. Mặc dù tiến trình liên kết còn thiếu xót một số mắc xích giữa các nền kinh tế lớn (ví dụ, Liên minh châu Âu (EU), Mỹ và Nhật Bản); giữa các nền kinh tế mới nổi (ví dụ, Brazil, Ấn Độ và Trung Quốc); hay giữa các nền kinh tế phát triển với các nền kinh tế mới nổi (ví dụ, Mỹ và EU với Brazil, Trung Quốc, Ấn Độ). TPP sẽ góp phần bù đắp những khoảng trống này bằng cách đưa 2 cường quốc kinh tế hàng đầu thế giới là Mỹ và Nhật Bản hiện diện trong cùng một hiệp định. Việc 2 cường quốc kinh tế gắn kết lại với nhau có ý nghĩa quan trọng, thứ nhất nó mang lại cho quan hệ thương mại và đầu tư giữa 2 nước một khuôn khổ chính thức, hợp pháp và thúc đẩy cho hoạt động thương mại công bằng và hiệu quả. Thứ hai, nó đặt ra tiền lệ cho các cuộc đàm phán tương lai giữa các quốc gia vốn trước đây không theo đuổi mối quan hệ đối tác do khác biệt về nhận thức.

TPP cũng kết nối các nước phát triển và đang phát triển quan trọng (ví dụ, Mexico và Singapore), cũng như các nước đang phát triển với nhau (ví dụ, Mexico và Việt Nam). Tạo ra những kết nối này là quan trọng khi các mô hình thương mại toàn cầu đã thay đổi trong vòng 5-10 năm qua. Trong khoảng thời gian này các nền kinh tế mới nổi và đang phát triển (EDCs), đặc biệt tại khu vực châu Á đã trở thành những đối thủ ngày càng quan trọng đối với thương mại quốc tế. Ví dụ, năm 1990 thương mại theo trục Nam-Nam chiếm ít hơn 5% thương mại thế giới, đến năm 2013 đã tăng gần gấp 4 lần và giờ đây chiếm gần 20% thương mại thế giới. Đưa quan hệ thương mại giữa các khu vực này vào một khuôn khổ chính thức như TPP không chỉ mang lại cơ hội từ thị trường mới mà còn giúp giao dịch thương mại trở nên hiệu quả hơn thông qua tinh giản chính sách và quy trình thủ tục.

Vấn đề thứ 2 ảnh hưởng đến cấu trúc thương mại toàn cầu là tầm quan trọng ngày càng tăng của của chuỗi giá trị toàn cầu (GVCs). Ngày càng có nhiều công ty hoạt động ở  một loạt các quốc gia khác nhau. Điều này cho thấy có nhiều cơ hội cho một số nước tham gia vào mạng lưới sản xuất quốc tế mà không nhất thiết phải xây dựng toàn bộ chuỗi cung ứng trong nước. Đồng thời, cơ cấu sản xuất này nhấn mạnh sự cần thiết phải sắp xếp lại một cách hợp lý các quy trình lẫn quy định. Nhiều quy định chồng chéo có thể trở thành rào cản thương mại và gia tăng chi phí không cần thiết. Ví dụ, sự chồng chéo trong các quy định về xuất xứ (ROO) - các tiêu chuẩn cho phép hàng hóa được hưởng ưu đãi theo một thỏa thuận thương mại cụ thể, có thể cản trở các công ty định vị sản xuất ở một nước nhất định và ảnh hưởng đến khả năng tận dụng ưu đãi tiếp cận thị trường. Đây là vấn đề đặc biệt nghiêm trọng trong hệ thống thương mại hiện nay khi hàng hóa thành phẩm phải trải qua nhiều công đoạn và đi qua nhiều nước trước khi được tiêu thụ ở thị trường cuối cùng. Trong khuôn khổ TPP đây cũng là vấn đề khi một mạng lưới các FTA giữa các thành viên vẫn song song tồn tại - 10 trong số 12 nước TPP hiện đang có FTA với ít nhất một nửa số thành viên TPP còn lại và hơn 80% hoạt động thương mại đang vận hành thông qua các FTA song phương này.

Các thành viên TPP đã nhất trí cho một bộ quy tắc xuất xứ duy nhất và áp dụng cho toàn khu vực. Theo nguyên tắc này, đầu vào từ bất kỳ một nước thành viên TPP nào cũng sẽ được đối xử giống như nhau do đó một nước có thể sử dụng đầu vào của nhà sản xuất nước ngoài trong sản xuất xuất khẩu mà vẫn được hưởng ưu đãi thuế quan đi kèm. Điều này sẽ khuyến khích các nhà sản xuất trong TPP tích hợp mạng lưới sản xuất thông qua chuỗi giá trị và thúc đẩy cho thương mại nội khối.

Vấn đề cuối cùng ảnh hưởng đến cấu ​​trúc thương mại toàn cầu là sự cần thiết phải xây dựng các quy tắc mới để giải quyết những vấn đề phát sinh trong nền kinh tế toàn cầu. Ví dụ, tiến bộ về công nghệ đã góp phần cải thiện giao thông và cho phép giám sát chuỗi cung ứng hậu cần thông qua việc theo dõi chính xác của sự di chuyển của hàng hóa trong suốt quá trình vận tải, từ đó giúp hoạt động cung ứng hậu cần trở nên hiệu quả hơn. Tương tự, mạng Internet và sự ra đời của công nghệ mới như điện toán đám mây và in 3-D đã loại bỏ một số rào cản truyền thống và tạo ra các kênh mới cho hoạt động thương mại. Với khả năng kết nối với khách hàng mới và thương mại điện tử, ngày càng có nhiều doanh nghiệp thâm nhập thị trường nước ngoài với chi phí rất thấp và xuất khẩu các sản phẩm và dịch vụ vốn đã từng bị xem là không thể xuất khẩu được. Những tiến bộ này đặt ra yêu cầu phải điều chỉnh các quy tắc chi phối thương mại quốc tế. Trong bối cảnh đó TPP chính là giải pháp khi bao hàm nhiều nguyên tắc liên quan thương mại điện tử, doanh nghiệp vừa và nhỏ, tạo thuận lợi cho thương mại, quy định cho dịch vụ và đầu tư…

Hàm ý cho các nước nước Mỹ La-tinh và Ca-ri-bê (LAC)

Các thành viên LAC trong TPP sẽ có khả năng mở rộng quan hệ thương mại và đầu tư tại các thị trường mới tại Á Thái Bình Dương cũng như làm sâu sắc thêm quan hệ kinh tế với các đối tác thương mại hiện có. Mặc dù Chile, Mexico, Peru đã có một số FTA với các thành viên TPP khác nhưng vẫn tồn tại những khoảng trống đáng kể trong mạng lưới thương mại. Ví dụ, trước TPP, Mexico, Peru không có FTA nào với những đối tác quan trọng tại châu Á Thái Bình Dương như Australia, Malaysia hay Việt Nam. TPP chính là chìa khóa lấp đầy những khoảng trống này và mang lại cơ hội để các nước LAC nâng cấp chính sách, mô hình thương mại và tạo ra một khuôn khổ vượt ra ngoài khu vực thương mại truyền thống. Nghiên cứu PIIE và WB dự báo tăng trưởng xuất khẩu của các thành viên LAC trong 15 năm tới, trong đó Peru sẽ đạt được tỷ lệ gia tăng lớn nhất, khoảng 10%; Chile và Mexico dự báo sẽ tăng lần lượt 5% và 4% vào năm 2030.

Tăng sự hiện diện ở châu Á đặc biệt quan trọng đối với các nước LAC. Mặc khác, những thay đổi về kinh tế và dân số diễn ra khắp châu Á trong những năm qua đã tạo ra một tầng lớp trung lưu phát triển với sức mua mạnh mẽ và giúp cân bằng nền nền kinh tế từ mô hình đầu tư sang tiêu dùng dẫn dắt tăng trưởng. Theo đó TPP sẽ mở ra cánh cửa để các nước LAC thâm nhập thị trường mới, đa dạng hóa hoạt động xuất khẩu tại khu vực này. Ví dụ, Chile có nhiều tiềm năng gia tăng thị phần tại Canada, Nhật Bản, Malaysia và Việt Nam dựa trên lợi thế trong ngành thực phẩm (đặc biệt nông sản, sữa, và chăn nuôi) và lĩnh vực lâm nghiệp. Với Mexico những thị trường tiềm năng chính là Australia, Brunei, Malaysia, New Zealand, Singapore và Việt Nam với lợi thế cạnh tranh trong các ngành như điện tử, ô tô, nông nghiệp, hóa chất, sản xuất thép, nước hoa, mỹ phẩm. Đối với Peru, TPP sẽ giúp nước này thâm nhập những thị trường mới như Australia, Brunei, Malaysia, New Zealand và Việt Nam; mở rộng quan hệ kinh tế hiện có với Nhật Bản và Canada, đặc biệt trong ngành sản phẩm nông nghiệp. TPP dự kiến ​​sẽ thúc đẩy hoạt động xuất khẩu phi truyền thống của Peru như kinh doanh nông nghiệp, đánh bắt cá, sản xuất, bông, quần áo và các lĩnh vực khác.

Ngoài việc lấp đầy những khoảng trống đáng kể trong mạng lưới thương mại của các LAC, TPP còn là giải pháp hài hóa các quy định cho phép các nước LAC làm sâu sắc hơn những mối quan hệ thương mại hiện có. Điển hình việc áp dụng một quy tắc xuất xứ - ROO - duy nhất giúp loại bỏ sự chắp vá và chồng chéo, giúp các nhà sản xuất tận dụng tối đa lợi thế của một khu vực thương mại tự do. Các thành viên LAC như Mexico và Peru có thể hưởng lợi từ tăng đầu tư vào ngành dệt may và tăng cường thương mại với Mỹ. Điều này còn giúp các nước LAC đạt được mục tiêu xuất khẩu các sản phẩm có giá trị gia tăng cao hơn trong nhiều ngành công nghiệp và củng cố vị thế của mình trong chuỗi giá trị hiện tại. Ví dụ, Chile được xem là có lợi thế cạnh tranh trong lĩnh vực gia công kim loại, các công ty của Chile có thể sử dụng nguồn nguyên liệu đầu vào của mình và linh kiện từ các nước thành viên TPP cho hoạt động sản xuất và vẫn được hưởng đầy đủ các ưu đãi thuế quan. Hay Mexico có thể tích hợp dây chuyền sản xuất theo chuỗi Mexico-Mỹ-Canada sau đó tăng cường thâm nhập thị trường châu Á.

Hiệp định TPP cũng được xem là cơ hội chiến lược cho các thành viên LAC gia tăng năng suất và khả năng cạnh tranh. TPP bao gồm các quy định WTO+ vượt ra ngoài quy tắc đa phương khi WTO ra đời khi bao hàm các lĩnh vực như thương mại điện tử, thương mại dịch vụ, quy định về quyền đầu tư và sở hữu trí tuệ. Những tiêu chuẩn này đòi hỏi Chile, Peru và Mexico thực hiện cải cách và nâng cấp các quy định hiện hành của mình trong nhiều lĩnh vực, do đó các nước này có thể cạnh tranh tốt hơn trong thu hút đầu tư cho khu vực. Điều này đặc biệt có ý nghĩa với Peru và Chile khi hoạt động xuất khẩu đang bị tổn thương bởi giá cả hàng hóa và nhu cầu thấp của Trung Quốc.

Các nước LAC không phải là thành viên TPP cũng sẽ bị ảnh hưởng một khi TPP được thực thi. Ví dụ, ngành dệt may một số nước Trung Mỹ như Cộng hòa Dominica và Haiti có thể bị ảnh hưởng bởi cạnh tranh từ Việt Nam - nước xuất khẩu hàng dệt may lớn thứ 2 vào thị trường Mỹ. Tuy nhiên, những ảnh hưởng có thể không quá nghiêm trọng như một số ý kiến phê bình cho biết. Thứ nhất, lộ trình loại bỏ thuế quan diễn ra theo từng gia đoạn và dự kiến ​​trong khoảng hơn 12 năm. Thứ hai, tồn tại quy tắc được gọi là “từ sợi trở đi” (yarn forward) nghĩa là không phải tất cả sản phẩm dệt may của Việt Nam sẽ được miễn thuế khi vào thị trường Mỹ. Ngoài ra, các nhà xuất khẩu khu vực Trung Mỹ vẫn có lợi thế so sánh khi sở hữu vị trí địa lý gần với Mỹ với chi phí vận chuyển thấp hơn. Nếu các nhà xuất khẩu Trung Mỹ đầu tư mở rộng sản xuất và nâng cao năng lực họ vẫn có thể cạnh tranh với bất kỳ sản phẩm nào đến từ Việt Nam. Ngoài ra, Mỹ cũng đã quyết định kéo dài Chương trình Hy vọng (Hope Program) đến năm 2025, cho phép hàng dệt may của Haiti được hưởng ưu đãi khi vào thị trường Mỹ cũng như một loạt hoạt động hỗ trợ cho các nhà sản xuất nước này.  

Không thể không nhắc tới nền kinh tế lớn nhất khu vực LAC - Brazil - nước không tham gia vào TPP. Brazil sẽ phải đối mặt với sự cạnh tranh khốc liệt tại thị trường châu Á trước các đối thủ lớn như Mỹ, Canada và New Zealand. Brazil cũng phải đối mặt với vấn đề rào cản phi thương mại trong lĩnh vực nông nghiệp đặc biệt về tiêu chuẩn vệ sinh và kiểm dịch thực vật. Trong khi các nước khác là Colombia, Costa Rica và Panama đang có được những yếu tố thuận lợi để tham gia vào TPP. Colombia là thành viên của Liên minh Thái Bình Dương (Pacific Alliance - PA)  nơi các thành viên khác đã là thành viên TPP; nước này cũng đã thực thi nhiều biện pháp cải cách thương mại và ban hành các quy định mới trong các lĩnh vực WTO+ như dịch vụ tài chính, tạo thuận lợi cho thương mại, dịch chuyển thể nhân và các quy định về đầu tư. Costa Rica và Panama là 2 ứng cử viên đầy hứa hẹn khi đạt được nhiều tiến bộ trong cải cách và cũng đã bày tỏ ý định trong việc tham gia TPP. TPP được coi là một “thỏa thuận sống” nghĩa là về mặt lý thuyết hiệp định này sẽ chấp nhận các thành viên mới miễn là họ sẵn sàng cam kết với các tiêu chuẩn cao của thỏa thuận.

Hàm ý cho hội nhập của khu vực LAC

TPP là một sự mở rộng của Hiệp định Đối tác Kinh tế Chiến lược xuyên Thái Bình Dương (P4) gồm Brunei, Chile, New Zealand và Singapore ra đời năm 2006. Năm 2010, thỏa thuận này đã được mở rộng thành viên bao gồm Mỹ, Australia, Peru và Việt Nam. Việc bổ sung các thành viên mới là một phần của nỗ lực mở rộng quy mô và phạm vi của thỏa thuận P4. Mục đích là tạo ra động lực cho hội nhập kinh tế khu vực châu Á Thái Bình Dương và được thiết kế để các nước khác có thể tích hợp sau này. TPP tiếp tục theo đuổi tầm nhìn này bằng cách thêm Malaysia tại vòng ba của các cuộc đàm phán trong năm 2010; Canada và Mexico tham gia năm 2012 và Nhật Bản gia nhập năm 2013. Do đó, có thể thấy rằng một khi TPP có hiệu lực, nó sẽ tiếp tục mở rộng thành viên và tạo ra một khu vực thương mại tự do trên khắp châu Á Thái Bình Dương. Điều này đòi hỏi phải có các sáng kiến ​​thương mại khu vực khác phù hợp với TPP về phạm vi và mục tiêu hội nhập dài hạn.

Liên minh Thái Bình Dương (PA) là một ví dụ về sáng kiến hội nhập khu vực phù hợp với TPP. PA gồm Chile, Peru, Mexico và Colombia tập trung vào việc tạo ra một thỏa thuận tiêu chuẩn cao hiện đại phản ánh kiến ​​trúc thương mại hiện nay và thúc đẩy hội nhập bằng cách cải thiện hiệu quả của mạng lưới hiện có thông qua hài hòa hóa. PA cũng ưu tiên cho việc hài hoà và hội tụ các quy định vượt ra bên ngoài các vấn đề thông thương như đầu tư, quyền sở hữu trí tuệ, tiêu chuẩn kỹ thuật. Do đó PA có thể là một khối có thể mở rộng sự tham gia để trở thành một thỏa thuận có quy mô lớn hơn như TPP. Ví dụ, PA có thể đàm phán một nguyên tắc xuất xứ thống nhất giữa 4 thành viên bất chấp việc TPP đã cho ra đời một bộ quy tắc xuất xứ chung và 3 thành viên của PA đã tham gia TPP, quan trọng là khả năng hợp nhất của 2 hiệp định là khả thi.  

Mercosur là một sáng kiến ​​quan trọng trong khu vực LAC có thể bị ảnh hưởng bởi TPP. Không giống như PA, không ai trong số 6 thành viên của Mercosur (Argentina, Bolivia, Brazil, Paraguay, Uruguay và Venezuela) là thành viên của TPP. Xuất khẩu từ các nước Mercosur có thể bị ảnh hưởng xấu bởi TPP. Các thành viên như Argentina và Brazil xuất khẩu một lượng đáng kể hàng hóa đến các nước TPP - chủ yếu là Mỹ, Chile và Nhật Bản. Một khi TPP có hiệu lực, các nhà xuất khẩu khu vực Mercosur có thể phải ra khỏi những thị trường truyền thống nếu không tuân thủ hoặc không thể đáp ứng được các tiêu chuẩn mới. Nói rộng hơn, thương mại hàng hóa trung gian chiếm tỷ trọng ngày càng lớn trong thương mại toàn cầu, sự hài hoà các quy định, đơn giản hóa quy tắc xuất xứ, thủ tục hải quan trở nên hiệu quả hơn sẽ ảnh hưởng tích cực đến hoạt động thương mại nói chung và dòng chảy hàng hóa trung gian nói riêng. Do đó, Mercosur sẽ phải đối mặt với thách thức do chuỗi giá trị mới ra đời với lợi thế nghiêng về các nước châu Á nhờ vào sự hiện diện của TPP.

Ngoài việc theo đuổi mục tiêu trở thành thành viên tương lai của TPP, Mercosur có thể xem xét cách thức để hợp tác với sáng kiến ​​PA. Tất cả bốn thành viên PA đã có các thỏa thuận với Mercosur. Ngoài ra tất cả các nước Mercosur và PA đều là thành viên của nhiều tổ chức quốc tế và khu vực khác như Liên minh Hải quan, Liên minh hạ tầng khu vực… đây là tiền đề cho sự tích hợp trong nhiều lĩnh vực như giao thông vận tải, năng lượng, viễn thông. Với nền tảng này cả PA và Mercosur cần tìm cách thúc đẩy hội nhập sâu hơn, mở đường để các nước Mercosur tham gia vào hệ thống thương mại quốc tế.  

Trung Quốc đứng ngoài cuộc chơi

Cần lưu ý rằng TPP không bao gồm Trung Quốc - nền kinh tế lớn nhất châu Á và lớn thứ hai thế giới, đối tác thương mại quan trọng giữ vai trò ngày lớn tại khu vực Mỹ La-tinh. Trung Quốc đã được mời tham gia TPP vào năm 2012, tuy nhiên, không có tiến triến đáng kể nào do những bế tắc trong cải cách của nước này trên các lĩnh vực như sở hữu trí tuệ, an ninh mạng, môi trường, lao động, doanh nghiệp nhà nước. Vậy làm thế nào Trung Quốc định vị vị trí của mình một khi TPP có hiệu lực. Hiện Trung Quốc có 15 hiệp định thương mại tự do với các nước châu Á Thái Bình Dương, trong đó là với một nửa số thành viên TPP (gồm Australia, Brunei, Chile, New Zealand, Peru, Singapore và Việt Nam), do đó Trung Quốc vẫn có một số lợi thế nhất định so với các nước thành viên chính thức. Mặt khác, Trung Quốc có thể sẽ nắm vai trò chủ động hơn trong khu vực để gây ảnh hưởng đến các tiêu chuẩn và quy định về thương mại và đầu tư, tránh việc mất thị phần do các mối liên kết năng động tạo ra bởi TPP.

Thời gian cho việc phê chuẩn

Trước khi TPP có thể có hiệu lực, các nước phải trải qua quá trình phê chuẩn theo những quy định pháp lý riêng của từng nước. Chắc chắn, nhiều quốc gia sẽ theo dõi tiến trình này của Mỹ nền kinh tế lớn nhất thế giới. TPP được chính phủ Mỹ đàm phán thông qua cơ chế đàm phán nhan được ủy quyền bởi Quốc hội Mỹ, theo đó khi hiệp định được trình các đại biểu Quốc hội Mỹ chỉ có quyền bỏ phiếu đồng ý hoặc phiếu chống mà không có quyền thay đổi nội dung chính phủ đã đàm phán. Quốc hội Mỹ sẽ có 90 ngày để xem xét hiệp định kể từ thời điểm Tổng thống đệ trình. Quá trình xem xét TPP tại Mỹ có thể diễn ra vào nửa đầu năm 2016, tiến trình này có thể bị ảnh hưởng bởi tình hình chính trị khi chiến dịch tranh cử Tổng thống năm 2016 đã bắt đầu.

Kết luận              

Với bối cảnh kinh tế thế giới tăng trưởng chậm, TPP là một bước tiến tích cực chứng tỏ sự sẵn sàng và nỗ lực của các nước nhằm thực hiện cải cách, đẩy nhanh tiến trình hội nhập và thúc đẩy tự do hóa thương mại. Với những tác động tiềm năng to lớn của TPP, trên cả bình diện phạm vi và quy mô, TPP được xem là tiêu chuẩn và quy tắc thương mại mới chi phối thương mại quốc tế.

Đối với khu vực các nước LAC, TPP là một cơ hội để thực hiện cải cách, tăng cường đầu tư, nâng cao sức cạnh tranh, vượt qua những thách thức bên trong và tích hợp sâu hơn vào kinh tế toàn cầu. Để đạt được điều đó, chính phủ các nước LAC cùng với khu vực tư nhân cần phối hợp nỗ lực, tăng cường trao đổi thông tin về những cơ hội trong hiện tại lẫn tương lai. Khi kinh tế toàn cầu trở lại mức tăng trưởng bền vững, việc các nước trong khu vực LAC thực hiện thành công cải cách và có được cơ chế đối thoại hiệu quả giữa khu vực nhà nước với tư nhân sẽ giúp các nước có được khả năng cạnh tranh quốc tế và gặt hái lợi ích từ việc gia tăng thương mại.

Hội nhập TPP: Doanh nghiệp thủy sản thờ ơ với quản trị rủi ro

Thủy sản là một trong những ngành xuất khẩu mũi nhọn của VN và đang được kỳ vọng sẽ làm “nên chuyện” khi TPP chính thức có hiệu lực. Thế nhưng, những khó khăn, thách thức đến từ nội tại và bên ngoài đang khiến cho các doanh nghiệp thủy sản mất ăn, mất ngủ.

Với kinh nghiệm thị trường non trẻ, nguồn lực hạn chế thì những biến động của thị trường thời siêu hội nhập, siêu cạnh tranh có thể sẽ khiến các doanh nghiệp đứng trước nhiều rủi ro ở nhiều cấp độ khác nhau. Và nếu không tìm được giải pháp hữu hiệu thủy sản có thể từ ngành đang có nhiều lợi thế sẽ trở thành ngành nghề gặp nhiều khó khăn nhất trong thời TPP.

Hiểu rõ thách thức

Bước sang năm 2016, các doanh nghiệp thủy sản VN sẽ tiếp tục phải đối mặt với những thách thức không nhỏ do nhiều yếu tố: Giá giảm, biến động tiền tệ, các rào cản phi thuế quan…Những rào cản dưới dạng quy định kỹ thuật, vệ sinh dịch tễ hay lao động rất có thể sẽ vô hiệu hóa lợi ích từ việc cắt giảm thuế quan đối với hàng hóa VN. Đó là những thách thức từ bên ngoài. Ngay trong chính nội tại ngành thủy sản VN cũng bộc lộ nhiều bất cập. Trong đó, việc giá thành sản phẩm thủy sản VN cao hơn so với các nước đối thủ, trong khi đó chi phí sản xuất tiếp tục tăng do đầu vào phụ thuộc vào các nguồn cung cấp nước ngoài (con giống, thức ăn, thuốc thú y)… Hiện nay rất nhiều doanh nghiệp đang tích cực đẩy nhanh các hoạt động xúc tiến và mở rộng thị trường để đón đầu cơ hội khi hội nhập. Nhưng đáng tiếc là hầu hết các doanh nghiệp chưa thực sự ý thức hết cũng như chuẩn bị các phương án quản trị rủi ro cho mình khi mở rộng thị trường. Nếu các doanh nghiệp tiếp tục thờ ơ, tiếp tục xem nhẹ những vấn đề này thì sắp tới đây những hậu quả mà các doanh nghiệp phải gánh chịu sẽ rất lớn và ngoài sức tưởng tượng. Do đó, vào lúc 10h sáng Chủ nhật ngày 6/3/2016 vừa qua, chương trình Chìa Khóa Thành Công – CEO đã đưa lên sóng chủ đề “Tài chính thời TPP – Quản trị rủi ro” để các chuyên gia, các doanh nhân, bàn bạc, mổ xẻ để tìm ra giải pháp.

Giải pháp nào hạn chế rủi ro?

Trong chương trình này, các chuyên gia của chương trình đã đi tìm giải pháp cho vấn đề của một doanh nghiệp sản xuất và xuất khẩu thủy sản. Doanh nghiệp nhận thấy khi hiệp định TPP có hiệu lực, thủy sản sẽ là một trong những lĩnh vực được hưởng nhiều lợi thế của TPP. Vì vậy doanh nghiệp tiến hành xúc tiến nghiên cứu các phương án để có thể nắm bắt thành công các cơ hội khi thị trường TTP rộng mở …Thế nhưng, khi tham gia kinh doanh trong TPP, sự cạnh tranh trên thị trường sẽ diễn ra gay gắt hơn, những rủi ro trong hoạt động sản xuất và kinh doanh sẽ trở nên khó lường hơn mà khả năng giải quyết rủi ro của doanh nghiệp còn nhiều vấn đề nổi cộm. CEO thấy rằng, song song với việc nắm bắt các cơ hội kinh doanh mới, thì DN cần có các giải pháp để dự phòng và hạn chế các rủi ro có thể gặp phải. Do đó, CEO đã gặp gỡ các chuyên gia để xin ý kiến tư vấn. Theo chuyên gia của chương trình, Gs. Hà Tôn Vinh – Chủ tịch kiêm TGĐ Tổ hợp Đào tạo và Tư vấn Quốc tế Stellar Management thì: “Để giải quyết bài toán này, đầu tiên chúng ta phải có chiến lược quản trị rủi ro kỹ lưỡng, kiểm soát mọi vấn đề. Thứ hai, trong tường hợp những rủi ro không thể lường trước được thì có nhiều cách để dự trù rủi ro đó, bao gồm việc mua bảo hiểm dự phòng; mời các nhà đầu tư để chia sẻ rủi ro cùng mình, từ đó xây dựng quyền lợi cũng như trách nhiệm với các nhà đầu tư; Xây dựng quỹ dự phòng rủi ro…” Làm rõ hơn nữa vấn đề, Ts. Lê Thẩm Dương – Trưởng khoa Tài chính, Trường ĐH Ngân hàng Tp. HCM tiếp lời: “Rủi ro là biến cố xấu, rủi ro có nhiều loại và phải chia chúng ra để quản trị. Nhiệm vụ của CEO là phải làm sao để rủi ro ở tối thiểu mà lợi nhuận ở mức cao nhất. Về quy trình quản trị rủi ro, CEO cần vẽ ra được môi trường rủi ro trong một vòng tròn gồm bốn nội dung: Thời hạn giao dịch; mức độ giao dịch; con người; thị phần doanh nghiệp. Mọi khâu phải có quy trình từ việc tuyển người đến nguyên liệu… đều phải theo ISO hết. Quản trị trong tầm chịu đựng của một vòng tròn đó. Khi mọi thứ vượt ra ngoài tầm quản trị mới dùng đến quỹ. Việc quản trị cần ba yếu tố: thứ nhất có bộ phận dự báo, thứ hai có sự đảm bảo về đối sách quản trị, thứ ba là việc phân tán rủi ro (đồng tài trợ giảm thiểu rủi ro). Người ta đo rủi ro bằng công thức Xác xuất chết x Mức độ chết x Quy mô cuộc chơi. Sai lầm của DN SME là giảm quy mô cuộc chơi lại. Giảm quy mô nhưng những biện pháp giảm xác xuất chết không làm thì vẫn chết. Nhưng quy mô tăng nhưng quy trình quản lý chặt chẽ thì rủi ro chắc chắn không tăng”. Những ý kiến tư vấn của các chuyên gia đã nhận được sự đồng tình của cộng đồng mạng trên trang fanpage của chương trình.

TPP sẽ bảo vệ khả năng áp đặt kiểm soát tài chính của Australia

Tuần trước, trên tờ Interpreter Leon Berkelmans dấy lên lo ngại về khả năng áp đặt các biện pháp kiểm soát vốn của chính phủ Úc khi Hiệp định Đối tác thương mại xuyên Thái Bình Dương (TPP) có hiệu lực.

Tiến sĩ Berkelmans, giám đốc Chương trình Kinh tế Quốc tế tại Học viện Lowy lập luận rằng nội dung cho các biện pháp kiểm soát vốn có trong Điều 29.3 của TPP (Chương trường hợp ngoại lệ và quy định chung) không đủ để bảo vệ các chính phủ  khi yêu cầu giải quyết tranh chấp nhà đầu tư– nhà nước.

TPP có thêm  nội dung bổ sung cụ thể bảo vệ khả năng chính phủ áp đặt kiểm soát vốn và các biện pháp bảo đảm an toàn khác trong Chương Dịch vụ tài chính. Điều 11.11 Chương này không ngăn cản Bên tham gia Hiệp định ban hành hoặc thực thi các biện pháp cần thiết để bảo đảm việc tuân thủ theo các quy định pháp luật trái với Chương này, bao gồm những biện pháp liên quan đến việc ngăn chặn các hành vi lừa dối, giả mạo hoặc để giải quyết hậu quả của hành vi vi phạm các hợp đồng dịch vụ tài chính, trên cơ sở yêu cầu buộc các biện pháp này không được áp dụng theo cách mà có thể tạo thành cách thức phân biệt đối xử độc đoán và khó chấp nhận giữa các Bên hoặc giữa Bên tham gia và Bên không tham gia Hiệp định là Bên mà các điều kiện tương tự được áp dụng, hoặc cách thức hạn chế đầu tư vào các tổ chức tài chính hoặc hoạt động thương mại dịch vụ tài chính xuyên biên giới trá hình như được quy định tại Chương này.

Điều khoản này, kết hợp với Điều 29.3, trong đó cho phép các bên áp dụng các biện pháp tự vệ tạm thời trong trường hợp đe dọa sự nghiêm trọng cán cân thanh toán và những khó khăn tài chính bên ngoài, sẽ cung cấp phạm vi rộng cho một quốc gia áp đặt các biện pháp kiểm soát vốn để bảo vệ lĩnh vực tài chính.

Nguồn : Asem/WTO/Bloomberg…

Từ khóa : Tổng hợp, phân tích, hiệp định, TPP, trong, tháng 3, 2016.

Chuyên mục RCEP

JSN_TPLFW_TOGGLE_MENU

Tin tức

JSN_TPLFW_TOGGLE_MENU

Thư viện hội nhập

thu vien


phong ve thuong mai

Video

Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field

Liên kết

 

Lượt truy cập

008790572
Go to top