
Bộ Công Thương vừa tổ chức Diễn đàn “Phát triển các ngành công nghiệp hỗ trợ Việt Nam trong bối cảnh các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới”. Tham dự Diễn đàn có đại diện Bộ Công Thương, Bộ Khoa học và Công nghệ, Tổ chức Xúc tiến Thương mại Nhật Bản (JETRO), các hiệp hội và nhiều doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ. Thứ trưởng Bộ Công Thương Hoàng Quốc Vượng chủ trì Diễn đàn.
Phát biểu khai mạc Diễn đàn, Thứ trưởng Hoàng Quốc Vượng cho biết, sau gần 30 năm đổi mới, hội nhập kinh tế quốc tế, cùng với việc gia nhập WTO, Việt Nam đã tham gia 10 hiệp định thương mại tự do (FTA) song phương, đa phương trong đó có 4 FTA lớn thế hệ mới là TPP, EVFTA, VKFTA, FTA Việt Nam-Liên minh Kinh tế Á-Âu. Hiện nay, nước ta đang tham gia đàm phán hiệp định đối tác kinh tế toàn diện khu vực (RCEP) và các FTA với Israel, khối EFTA, ASEAN - Hồng Kông. Công nghiệp hỗ trợ sản xuất linh kiện, phụ tùng cung cấp cho các doanh nghiệp lắp ráp, chế tạo sản phẩm hoàn chỉnh nên là ngành kinh tế then chốt, quan trọng trong quá trình công nghiệp hóa đất nước. Khi Việt Nam là thành viên các FTA này, ngành công nghiệp hỗ trợ sẽ tiếp cận được với các đối tác lớn, có cơ hội mở rộng xuất khẩu sang hầu hết các thị trường lớn như Mỹ, EU đồng thời có nguồn cung nguyên liệu rẻ lơn, chất lượng tốt hơn, tham gia vào mạng lưới sản xuất quốc tế. Tuy nhiên, cùng với đó, áp lực cạnh tranh từ các nền kinh tế có cơ cấu tương đồng như Ấn Độ, Trung Quốc, Cộng đồng ASEAN cũng mạnh mẽ hơn. Việc tiếp cận thị trường nước ngoài cũng chỉ thành công khi đáp ứng các tiêu chuẩn về giá, chất lượng, liên tục đổi mới công nghệ và đáp ứng các tiêu chuẩn lao động, môi trường, quản trị theo tiêu chuẩn quốc tế. Do vai trò quan trọng của công nghiệp hỗ trợ, Diễn đàn này được tổ chức để lắng nghe ý kiến của các doanh nghiệp, giúp Nhà nước hoạch định được các chính sách phù hợp đồng thời cung cấp thêm thông tin cho doanh nghiệp cả về cơ hội cũng như thách thức để các doanh nghiệp chuẩn bị tốt hơn khi các hiệp định này có hiệu lực.
Trong thời gian qua, Chính phủ và các Bộ ngành đã ban hành nhiều nghị định, thông tư, văn bản hướng dẫn cũng như các chính sách ưu đãi dành cho phát triển công nghiệp hỗ trợ, đặc biệt là đối với các ngành dệt may, da giầy, điện tử, sản xuất lắp láp ô tô. Các chính sách ưu đãi này bao gồm ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp với thuế suất chỉ 10% trong vòng 15 năm, ưu đãi thuế giá trị gia tăng, miễn thuế nhập khẩu cho hàng vật tư nguyên liệu phục vụ dự án công nghiệp hỗ trợ, tín dụng ưu đãi từ nguồn vốn đầu tư nhà nước, ưu đãi các hoạt động chuyển giao công nghệ trong các dự án thuộc danh mục ưu tiên, tài trợ cho các quỹ nghiên cứu phát triển, ưu tiên tham gia chương trình xúc tiến thương mại quốc qua, hỗ trợ trong đào tạo nhân lực, xây dựng các website cung cấp thông tin và trình tự thủ tục... Bộ Công Thương đã phát triển các Trung tâm hỗ trợ tại Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh, đóng vai trò đầu mối trong phát triển công nghiệp hỗ trợ.
Một số địa phương cũng có nhiều chính sách thúc đẩy công nghiệp hỗ trợ phát triển. Bà Lê Bích Loan, Phó Trưởng Ban quản lý Khu công nghệ cao thành phố Hồ Chí Minh, cho biết, trong thời gian qua, Ban quản lý Khu công nghệ cao luôn luôn lắng nghe, đồng cảm với tâm tư nguyện vọng của doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ, miễn giảm tiền thuê đất, giao đất, có nhiều chương trình hỗ trợ cho các doanh nghiệp và đang trình lên UBND thành phố Hồ Chí Minh đề án phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa. Hiện nay, tỉ lệ nội địa hóa trong Khu công nghệ cao thành phố đạt khoảng 15%, phấn đấu đến năm 2020 đạt trên 25%, riêng tỉ lệ nội địa hóa đối với SamSung đạt khoảng 35%.
Mặc dù được hưởng nhiều ưu đãi như vậy nhưng cho đến nay, ngành công nghiệp hỗ trợ Việt Nam vẫn còn yếu, chưa đạt mục tiêu đề ra. Theo thống kê, tỉ lệ doanh nghiệp hỗ trợ trên tổng số doanh nghiệp còn rất nhỏ, chỉ khoảng 0,3%. Các FTA thế hệ mới, đặc biệt là TPP – có quy mô rất lớn, chiếm đến 40% GDP toàn cầu và đề ra các quy tắc xuất xứ rất chặt chẽ được kỳ vọng sẽ là cơ hội tốt cho ngành công nghiệp hỗ trợ Việt Nam phát triển, mặc dù có thể gặp nhiều khó khăn trong thời gian đầu do các yêu cầu cao trong TPP. Cụ thể, ngành ô tô sẽ được miễn thuế nếu đạt được tỉ lệ nội địa hóa trong TPP là 65% nên sẽ kích thích một số tập đoàn ô tô lớn mở cơ sở sản xuất tại Việt Nam. Các doanh nghiệp phụ trợ ô tô nước ta sẽ có cơ hội cung cấp phụ tùng linh kiện, tham gia vào chuỗi sản xuất ô tô toàn cầu. Mặt hàng dệt may cũng chỉ được hưởng thuế suất ưu đãi khi đáp ứng được quy tắc xuất xứ từ sợi trở đi (yarn-forward) nên sẽ thúc đẩy công nghiệp hỗ trợ cho ngành này phát triển, giảm sự phụ thuộc nặng nề vào nguồn nguyên liệu nhập khẩu như hiện nay...
Tuy vậy, bên cạnh những cơ hội, các FTA thế hệ mới cũng đặt ra những khó khăn, thách thức mới, không nhỏ đối với ngành công nghiệp hỗ trợ nước ta như các thách thức từ rào cản phi thuế quan của các nước, tăng chi phí sản xuất do phải đáp ứng các quy định mới, cao hơn mới về lao động, môi trường, sức ép cạnh tranh lớn từ các nước có cơ cấu kinh tế tương đồng như ASEAN, Trung Quốc, Ấn Độ. Các tập đoàn lớn đa quốc gia đều có có các các trung tâm nghiên cứu (R&D) rất mạnh, chủ động sáng chế các công nghệ mới trong khi các doanh nghiệp hỗ trợ Việt Nam hầu hết phải đi mua công nghệ. Các quy định về sở hữu trí tuệ trong các FTA thế hệ mới rất chặt chẽ, gây không ít khó khăn cho các doanh nghiệp hỗ trợ nước ta khi muốn tiếp cận công nghệ mới. Hiện nay, hầu hết các doanh nghiệp hỗ trợ Việt Nam có quy mô vốn nhỏ và siêu nhỏ, thời hạn thuê mặt bằng ngắn, máy móc thiết bị lạc hậu, trình độ nhân lực, quản lý còn thiếu và yếu, năng suất lao động thấp. Nguyên vật liệu đa phần phải nhập khẩu nên không chủ động được và có chi phí cao, hành lang pháp lý chưa cụ thể. Các doanh nghiệp hỗ trợ chưa giám đầu tư chuyên sâu mà chỉ dám tính toán đầu tư ở mức độ an toàn. Phát triển công nghiệp hỗ trợ cần tập trung, chuyên sâu vào một số sản phẩm chính, các sản phẩm phụ phải đi gia công ở các công ty vệ tinh bên ngoài nhưng các công ty vệ tinh này còn rất yếu.
Để hóa giải được các khó khăn thách thức trên, bên cạnh sự nỗ lực cố gắng của cộng đồng doanh nghiệp hỗ trợ, vai trò trợ giúp của Nhà nước rất quan trọng. Nhà nước cần đẩy mạnh áp dụng các biện pháp phi thuế quan như phòng vệ thương mại, chống trợ cấp và tự vệ thương mại để bảo vệ thị trường trong nước, ban hành các chính sách thu hút đầu tư vào công nghiệp hỗ trợ ổn định lâu dài để các doanh nghiệp an tâm đầu tư. Bên cạnh đó, đẩy mạnh cung cấp thông tin thị trường cho doanh nghiệp, hỗ trợ doanh nghiệp về công nghệ kỹ thuật, đào tạo kỹ năng thương mại (ngoại ngữ tiếng Anh chuẩn) đạt được các tiêu chuẩn quốc tế. Việt Nam cần nghiên cứu thành lập các “lồng ấp”, có các chương trình khởi sự (start up), xây dựng nhiều khu công nghiệp tập trung dành cho doanh nghiệp hỗ trợ, ban hành cơ chế, chính sách để các ưu đãi đến được với các doanh nghiệp xứng đáng nhất.
Về phía doanh nghiệp, nếu muốn cạnh tranh tốt, các doanh nghiệp cần có chiến lược kinh doanh dài hạn, bền vững, luôn đặt chữ tín lên hàng đầu, kết nối với nhau để tìm ra và chia sẻ cơ hội đầu tư, cố gắng cắt giảm chi phí sản xuất để có giá thành canh tranh với các nước khác, thực hiện giao hàng đúng hạn, không làm ảnh hưởng đến kế hoạch của khách hàng, xây dựng quan hệ hợp tác với khách hàng một cách chân thành, đầu tư đổi mới công nghệ liên tục. Ngoài ra các doanh nghiệp hỗ trợ nên tích cực tham gia vào các chương trình xúc tiến thương mại quốc gia
Sẽ thật thiếu sót nếu không nói đến vai trò hỗ trợ tích cực của Tổ chức Xúc tiến Thương mại Nhật Bản (JETRO) đối với công nghiệp hỗ trợ Việt Nam. Theo ông Atsusuke Kawada, Trưởng đại diện Văn phòng JETRO tại Hà Nội, tháng 7 năm ngoái, JETRO và Bộ Kế hoạch và Đầu tư Việt Nam đã ký kết văn bản tăng cường hợp tác trong lĩnh vực nông nghiệp và doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam và hiện cũng đang giúp Bộ này xây dựng luật phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa. Hằng năm, tại Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh, JETRO đều phối hợp với Cục Xúc Tiến Thương mại tổ chức hội trợ triển lãm kết nối, giới thiệu các doanh nghiệp hỗ trợ ưu tú Việt Nam với các công ty Nhật Bản để đẩy mạnh giao thương, trao đổi kinh nghiệm, kỹ thuật. Theo tính toán, tỉ lệ nội địa hóa của doanh nghiệp Nhật Bản ở Việt Nam (tính cả các doanh nghiệp hỗ trợ Nhật Bản hoạt động ở Việt Nam) còn thấp, năm 2015 là 32,1 %, thấp hơn so với năm 2014 là 33% và thấp hơn nhiều so với mức ở Trung Quốc là 64,7%, Malaysia 36%, Thái Lan 55,6%. Nếu chỉ tính riêng các doanh nghiệp hỗ trợ thuần Việt thì tỉ lệ này không quá 13%. Việc phát triển các ngành công nghiệp hỗ trợ không hề dễ dàng. Ví dụ, để phát triển doanh nghiệp hỗ trợ ngành ô tô thì phải tăng dung lượng thị trường ô tô nhưng nhưng thị trường ô tô Việt Nam còn nhỏ, chi phí sản xuất lớn. Trong thời gian tới, JETRO sẽ tiếp tục tìm cách giúp Việt Nam phát triển công nghiệp hỗ trợ, thu hút được các hãng sản xuất Nhật Bản.
Có thể thấy, các FTA thế hệ mới sẽ tạo ra rất nhiều cơ hội tốt cho các doanh nghiệp hỗ trợ nhưng các hiệp định này không phải là công cụ giải quyết mọi vấn đề. Công nghiệp hỗ trợ Việt Nam chỉ phát triển lên tầm cao mới khi các doanh nghiệp hỗ trợ, cùng với sự trợ giúp của Nhà nước, tận dụng hết các cơ hội và biết cách vượt qua mọi thách thức mà các FTA thế hệ mới đưa đến.
Nguồn: AsemconnectVietnam
Từ khóa : Các, FTA, thế hệ, mới, cơ hội, tốt, công nghiệp, hỗ trợ, Việt Nam.
Các tin khác
- DN Trung Quốc "thống trị" triển lãm dệt may vì TPP - 01/04/2016
- Vai trò, vị trí của doanh nghiệp nhỏ và vừa thời hội nhập - 31/03/2016
- Nâng cao năng lực cạnh tranh du lịch Việt Nam trong ASEAN - 31/03/2016
- ADB nêu ra 5 thách thức với kinh tế Việt Nam 2 năm tới - 31/03/2016
- Việt Nam gia nhập AEC & TPP: “Chậm chân” sẽ thua ngay trên “sân nhà” - 30/03/2016






















