
Sau khi hiệp định đối tác thương mại và đầu tư xuyên Đại Tây Dương (TTIP) chính thức khởi động đàm phán, đã có rất nhiều cuộc thảo luận xung quanh vấn đề đưa việc giảm các rào cản pháp lý vào nội dung hiệp định. Tổng thống Obama từng lưu ý rằng các đàm phán hiệp định TTIP sẽ chú trọng đến việc “hài hòa các khác biệt về vấn đề pháp lý”.
Trong báo cáo dựa trên việc khảo sát các bên liên quan, được thực hiện bởi Quỹ Bertelsmann và Hội đồng Đại Tây Dương vào tháng 4/2013 đã chỉ ra rằng vấn đề hài hòa hóa các quy định ở khu vực xuyên Đại Tây Dương sẽ là một trong những vấn đề khó giải quyết nhất của đàm phán hiệp định TTIP, nhưng đồng thời đây cũng là phần quan trọng nhất trong toàn bộ nội dung của hiệp định này.
Một nghiên cứu nổi tiếng của Ecorys vào năm 2009 cho thấy một số lợi ích đáng kể từ việc giải quyết "các biện pháp phi thuế quan", bao gồm các vấn đề bất đồng giữa các quy định, trong bối cảnh thương mại giữa Mỹ và EU. Sau khi lưu ý rằng việc hoàn toàn loại bỏ các rào cản sẽ giúp GDP tăng từ 2,5% đến 3,0%, nghiên cứu trên đã cố gắng xác định những rào cản nào có thể loại bỏ được trong thực tế.
Theonghiên cứu, việc loại bỏ rào cản sẽ thúc đẩy GDP của EU tăng thêm 0,7% mỗi năm, tức mỗi năm EU có thể thu thêm được 158 tỷ USD, đồng thời thúc đẩy GDP của Mỹ tăng thêm 0,3%, tức mỗi năm Mỹ sẽ có thể thu thêm được 53 tỷ USD.
Tuy vậy, khi EU và Mỹ thảo luận về vấn đề này, cả 2 phía đều có ý kiến khác nhau về những điểm cần phải tập trung. Mỹ muốn tập trung vào việc áp dụng những nỗ lực cải cách quy định trong nước của mình lên toàn cầu. Trong chuyến thămEU vào tháng 9/2013, ngay sau khi đàm phán hiệp định TTIP bắt đầu, Đại diện Thương mại Mỹ Michael Froman đã tán dương các cải cách nội bộ của Mỹ, và kêu gọi EU cần thực hiện các nguyên tắc “minh bạch’, “tham gia”, và“trách nhiệm”.
Ông Froman cho biết Mỹ đã thực hiện những nguyên tắc này bằng cách:"thông báo trước về các biện pháp quản lý cụ thể"(minh bạch); "tạo cơ hội cho các nguyên liệu đầu vào từ nhiều bên liên quan hơn" (tham gia); và "sự phản ứng với các nguyên liệu đầu vào này" (trách nhiệm).
Sự nhấn mạnh của ông Froman đối với các nguyên tắc trên cho thấy Mỹ đang ngầm chỉ trích quy trình quản lý của EU, đặc biệt là đối với việc EU chỉ công bố các giấy tờ chung chung nhằm lấy ý kiến trước khi đề xuất các quy định, nhưng lại không cho phép bình luận về các văn bản của quy định. Lời phát biểu của ông Froman ám chỉ rằng, từ quan điểm của Mỹ, EU cần phải cải cách quá trình quản lý của mình và áp các nguyên tắc trên đầy đủ hơn.
Tuy vậy, EU đã không tiếp nhận sự kêu gọi thay đổi này. Ủy viên Thương mại châu Âu, ông Karel De Gucht, đã phát biểu như sau: "Không bên nào thành công nếu cứcố gắng tìm cách áp đặt hệ thống của mình lên người khác." Ông De Gucht lên tiếng bảo vệ sự minh bạch và cởi mở trong hệ thống hiện tại của EU, và nhấn mạnh rằng trọng tâm của EU trong đàm phán hiệp định TTIP là cố gắng hài hòa hóa những khác biệt về pháp lý tồn tại giữa các ngành khác nhau.
Cách tiếp cận trên của EU bao gồm việc tìm kiếm "phương thức hợp tác về các quy định trong tương lai để tránh các rào cản thương mại không cần thiết", và "làm cho quy định hiện hành tương thích hơn." Ông De Gucht cũng đề nghị TTIP nên thành lập “Hội đồng Hợp tác về Quản lý, trong đó tập hợp người đứng đầu các cơ quan quản lý quan trọng nhất của EU và Mỹ”.
Đối với EU, các lợi ích lớn nhất đến từ việc tập trung vào các lĩnh vực quan trọng của thương mại xuyên Đại Bình Dương, như ngành ô tô, dược phẩm, hóa chất, nhằm kiểm tra những khu vực mà sự bất đồng trong các quy định đặc biệt gây tốn kém và ngăn cản sự tự do trao đổi hàng hóa – những mặt hàng đã trải qua quá trình thử nghiệm và chứng nhận an toàn.
Dựa vào quan điểmcủa các quan chức cấp cao 2 bên, có vẻ như Mỹ và EUnhìn nhận vấn đề pháp lý trong các hiệp định thương mại theo cách rất khác nhau. Trong đó phản ánh sự thiếu đồng thuận và thiếu hiểu biết về vấn đề "rào cản quy định thương mại." Ví dụ, nghiên cứu của Ecorys đã chỉ ra nhiều vấn đề pháp lý không thể dễ dàng giải quyết được, chẳng hạn như cải cách tranh chấp dân sự ở Mỹ hay vấn đề độc quyền bưu chính ở cả 2 nền kinh tế.
Nhưng giải quyết các chính sách quốc gia vốn đã tồn tại lâu như vậy thông quađàm phán thương mại là khó có thể thực hiện được. Những nỗ lực giải quyết các rào cản quy định thương mại tại các cuộc đàm phán hiệp định TTIP sẽ có hiệu quả hơn nếu các vấn đề vốn đa dạng này được chia thành từng nhóm phù hợp, chứ không phải là gộp chung tất cả lại với nhau như hiện tại.
Dưới đây là một hệ thống phân loại đề nghị, giúp phân loại các vấn đề của TTIP thành từng nhóm hiệu quả hơn.
Trong nhiều thập kỷ, các nhà đàm phán thương mại thường nhắc đến các vấn đề rào cản quy quy định thương mại. Nhưng chính xác, thứ gì là rào cản? Bài viết này đặt ra một khuôn khổ để phân tích vấn đề này, dựa trên 3 lĩnh vực mà quy định trong nước có thể ảnh hưởng đến thương mại, gồm: bảo hộ pháp lý, sự bất đồng giữa các quy định, và cải cách quy định.
Bảo hộ pháp lý
Chủ nghĩa bảo hộ là một khái niệm quen thuộc với bất cứ ai có liên quan đến chính sách thương mại. Ý tưởng cốt lõi của chủ nghĩa bảo hộ là các chính phủ sẽ hành động để "bảo vệ" các nhà sản xuất trong nước khỏi sự cạnh tranh từ các doanh nghiệp nước ngoài.
Trong nhiều trường hợp, đây là bản chất gây ra xung đột thương mại, và là vấn đề cơ bản mà luật thương mại phải tìm cách khắc phục. Chủ nghĩa bảo hộ là một biểu hiện cụ thể của chủ nghĩa kinh tế dân tộc.
Thông thường, sự bảo hộ thường được áp dụng tại biên giới, thông qua các biện pháp như thuế quan và hạn ngạch. Tuy nhiên, các chính phủ từ lâu đã áp dụng bảo hộ bằng các biện pháp trong nước. Phương pháp này giúpsự bảo hộ khó bị các đối tác kinh doanh phát hiện, và do đó, dễ tránh được việc bị kiện ra WTO.
Đôi khi chủ nghĩa bảo hộ lại được thể hiện khá rõ ràng trên các biện pháp đưa ra. Tuy nhiên, trong một số trường hợp,chủ nghĩa bảo hộ chỉ được xác định khi sau khi các yếu tố như ngành công nghiệp, thị trường cổ phiếu, và các yếu tố khác được xem xét chặt chẽ. Ví dụ, trong trường hợp các quy định về thức uống có cồn, chính phủ có thể quyết định đánh thuế cao hơn đối với các thức uống có nồng độ cồn caoso với các thức uống có nồng độ cồn thấp.
Thoạt nhìn, một quy định như vậy sẽ không làm gia tăng sự lo ngại trong hoạt động thương mại. Tuy nhiên, nếu ngành công nghiệp sản xuất thức uống trong quốc gia nàyhầu hết chỉ sản xuất các sản phẩm có nồng độ cồn thấp, trong khi sản phẩm có nồng độ cồn cao đều có xuất xứ từ ngành công nghiệp sản xuất ở nước ngoài, thì đây chính là một dấu hiệu cho thấy rằng mục đích thực sự của quy định trên là nhằm ưu tiên cho việc sản xuất trong nước.
Sự bất nhất giữa các quy định
Sự bất đồng giữa các quy định là một khái niệm quen thuộc đối với cộng đồng thương mại. Cốt lõi của vấn đề này là sự khác biệt của kết quả quản lý (cần phân biệt với quá trình quản lý). Sự khác biệt này trở thành một rào cản phi thuế quan vì chúng khiến việc nhập khẩu các sản phẩm hay dịch vụ từ các nước khác trở nên tốn kém hơn.
Chi phí kinh doanh sẽ tăng khi các công ty phải thực hiện nhiều quy định khác nhau, ngay cả những những quy định này chỉ có một số khác biệt nhỏ. Tổng thống Obama đã tập trung vào việc giảm các chi phí do sự bất đồng giữa các quy định giữa các quốc gia gây, và ban hành một sắc lệnh về "đẩy mạnh hợp tác quốc tế."
Sự bất đồng giữa các quy định xảy ra vì một số lý do. Một trong số các nguyên nhân làdo mục tiêu chính sách giữa các nước có thể khác nhau. Tuy nhiên, đôi khi hai nước có thể có những mục tiêu quản lý chung, nhưng hai nước này lại xây dựng các quy định để thực hiện mục tiêu này khác nhau.
Nếu thực hiện quá trình quản lý độc lập, trong đó các cơ quan của một quốc gia đưa ra các quyết định mà không tham vấn trước các đối tác quốc tế của họ, thường sẽ dẫn đến sự khác biệt trong quy định giữa các quốc gia.
Sự bất đồng giữa các quy định có thể được giải quyết bằng một số cách khác nhau, nhưng có 3 lựa chọn chính là hài hòa hóa, công nhận tương đương và công nhận lẫn nhau.
Phương pháp tiếp cận đầu tiên,cũng là phương pháp khó nhất, là hài hòa hóa, theo đó tất cả các bên đồng ý áp dụng các quy định hay tiêu chuẩn tương tự nhau, và đôi khi có sự tham khảo các tiêu chuẩn quốc tế.
Do đó, hài hòa hóa sẽ giúp "loại bỏ hoặc làm giảm các khó khăn phát sinh từ sự khác biệt của các hệ thống pháp luật giữa các quốc gia và từ vấn đề các hệ thống pháp luật này chỉ có thể áp dụng trong phạm vi lãnh thổ của riêng từng nước". Hài hóa hóa sẽ được thực hiện thông qua việc thỏa thuận về một phương pháp tiếp cận duy nhất hoặc một quy trình thủ tục tốt nhất cho tất cả các bên.
Phương pháp thứ hai là công nhận tương đương đối với các tiêu chuẩn hay quy định. Sự khác biệt chính giữa công nhận tương đương và hài hòa hóa là hài hòa hóasẽ biến hai quy định hoặc hai tiêu chuẩn riêngthành một tiêu chuẩn hay một quy định chung duy nhất. Trong khi đó, công nhận tương đương cho phép tồn tại sự khác biệt trong quy định, nhưng vẫn công nhận rằng mục tiêu của hai quy định này là gần giống nhau.
Nói đơn giản, cả hai bên sẽ thống nhất rằng một số tiêu chuẩn hoặc quy định cụ thể của mỗi bênlà có chức năng tương đương nhau, và quá trình cấp giấy chứng nhận trong nước của quốc gia này là đủ để đảm bảo tính an toàn và tínhphù hợp với quốc gia đối tác.
Phương pháp cuối cùng là công nhận lẫn nhau, theo đó "hai hay nhiều quốc gia thống nhấtrằng một số khía cạnh trong cơ chế quản lý của một quốc gia là có thể thay thế cho cơ chế quản lý của các quốc gia còn lại”. Tuy vậy, việc áp dụng rộng rãi phương pháp công nhận lẫn nhau chỉ xảy ra ở khu vực EU, trong khi ở các khu vực khác vẫn còn rất hạn chế.
Công nhận lẫn nhau là sự bổ sung cho phương pháp hài hòa hóa và công nhận tương đương vì phương pháp này "có thể được dựa trên hài hòa hóa, trên công nhận tương đương, hoặc sự đáp ứng đầy đủ các tiêu chí bên ngoài như các tiêu chuẩn nhập khẩu của đối tác hay các tiêu chuẩn quốc tế." Phương pháp công nhận lẫn nhau do Mỹ áp dụng thường có phạm vi hạn chế hơn, được thể hiện trong các thoả thuận công nhận lẫn nhau (MRAs).
MRAs thường nhằm mục đích loại bỏ quá trình kiểm nghiệm hoặc chứng nhận trùng lắp giữa 2 nước vì điều này có thể cản trở sự dịch chuyển tự do của hàng hóa và dịch vụ qua biên giới. MRAs thực hiện mục tiêu trên bằng cách công nhận các kết quả kiểm nghiệm các sản phẩm hay dịch vụ của một số cơ sở đặc biệt nhằm đáp ứng các yêu cầu kỹ thuật cần thiết để xuất khẩu các hàng hóa và dịch vụ này vào một lãnh thổ cụ thể.
Về cơ bản, MRAs thường là thỏa thuận song phương, cho phép hai nước "để chấp nhận các kết quả kiểm tra, thử nghiệm hoặc chứng nhận được thực hiện bởi các quốc gia khác."
Các quốc gia nỗ lực cải cách quy định
Chắc chắn sẽ có sự khác nhau về mực độ hiệu quả các các quy định đang tồn tại hiện nay. Đôi khi sự khác biệt này có thể xuất phát từ bản chất nội dung của quy định – tức là quy định này có được được xây dựng tốt để đạt được mục tiêu hay không. Sự khác biệt này cũng có thể xuất phát từ quá trình thực thi quy định, vì quá trình này có thể có các sai sót như việc các nhóm lợi ích đầu tư quá nhiều hoặc quá ít vào quá trình.
Rất khó để đánh giá được hiệu quả của một biện pháp. Và chắc chắn càng khó khăn nếu phải làm điều này khi biện pháp vẫn chưa được đưa vào thực hiện. Nhưng ngay cả khi biện pháp đã có hiệu lực, việc so sánh giữa tình hình thực tế và các giả thiết về hoàn cảnh khi các biện pháp này không được thực hiện hoặc khi một biện pháp khác được thực hiện, vẫn rất khó khăn.
Ngoài nội dung quy định, quá trình thực thi quy định cũng cần phải được lưu ý. Tuy quy định có thểcó mục tiêu tốt đẹp, nhưng quá trình thực thi quy định có thể sẽ xảy ra sai sót: (1) lợi ích thường được nhấn mạnh trong khi chi phí lại bị bỏ qua; (2) các lợi ích đặc biệt thường ảnh hưởng đến quá trình theo hướng tiêu cực; và (3) tình hình thế giớithay đổi khiến các quy định nhanh chóng trở nên lỗi thời.
Vì vậy, việc khiến các quy định đạt được mục tiêu ban đầu là không dễ dàng. Để giải quyết vấn đề này, Mỹ đã dành nhiều thập kỷ cố gắng cải thiện quá trình thực thi quy định trong nước. Các quốc gia khác cũng đang theo đuổi mục tiêu tương tự.
Một nhà đàm phán thương mại Mỹ đã giải thích rằng một trong những mục tiêu của việc đưa các vấn đề pháp lý vào các cuộc đàm phán thương mại là nhằm “cung cấp các công cụ để giúp các nước điều tiết tốt hơn.” Nhưng liệu điều này có thể giúp việc thực hiện các quy định trong nước tốt hơn thông qua việc sử dụng các quy tắc quốc tế để cải thiện quá trình thực thi quy định hay không?
Về lý thuyết, các nguyên tắc và hướng dẫn chung có thể được phát triển ở cấp độ quốc tế nhằmtăng tính hiệu quả và giảm chi phí thực hiện cho các quy định.Các nỗ lực trong nước của Mỹ và các nước khác có thể xem là mô hình mẫu của việc kết hợp các biện pháp trong nước với các công cụ pháp lý quốc tế.
Nhưng trong thực tế đang tồn tại sự lo ngại liên quan đến vấn đề “bắt nạt” trong chính sách đối ngoại, cũng như vấn đề về thẩm quyền – liệu nước này có thực sự biết cách quản lý tốt hơn nước khác?
Kết luận
Còn rất nhiều vấn đề đang tồn tại trong việc giải quyết các rào cản quy định thương mại. Đầu tiên là vấn đề xác định các rào cản cần phải giải quyết. Hệ thống phân loại được đưa ra phía trên đã làm rõ hơn về vấn đề này.
Như đã đề cập, EU có khuynh hướng tập trung nhiều hơn vào sự bất đồng giữa các quy định, trong khi Mỹ lại tập trung vào vấn đề cải cách quy định. Trừ khi Mỹ và EU có thể thống nhấtý kiến, nếu không việc tìm ra giải pháp chung cho cả 2 bên là một thách thức lớn.
Ngoài sự khác biệt về ý kiến, việc xác định vấn đề cần tập trung nỗ lực giải quyết cũng rất khó. Liệu có cần tăng thêm nỗ lực giải quyết các quy định bảo hộ, hay thực chấtcác nghĩa vụ cam kết trong WTO đã bao gồm các biện pháp giải quyết vấn đề bảo hộ này?
Nếu vấn đề là sự bất đồng giữa các quy định, liệu chúng ta có thể thuyết phục các nhà quản lý hợp tác làm việc nhằm phát triển các quy định mới không?Làm thế nào để thúc đẩy công nhận lẫn nhau hoặc công nhận tương đương đối với các quy định cũ? Liên quan đến việc xây dựng quy chế tốt hơn, vai trò của các tổ chức quốc tế trong việc xây dựng và thúc đẩy các chỉ tiêu của các biện pháp quản lý tốt trong thực tiễn là gì?
Bên cạnh đó, vấn đề đặt ra là tổ chức nào nên theo đuổi những vấn đề này.Hiện tại, những vấn đề nay đang được giải quyết tại WTO, Uỷ ban TBT và nhiều tổ chức khác. Nhưng liệu sự phát triển của các thể chế mới trong hiệp định TTIP có hỗ trợ cho các tổ chức này, hay lại gây sự chồng chéo trong việc giải quyết vấn đề giữa các tổ chức? Và hiệp định TTIP có loại trừ sự tham gia giải quyết vấn đề trên của các nước khác hay không?
Cuối cùng, các hiệp định thương mại thường dựa vàoviệc giải quyết tranh chấp để thực thi các quy định. Tuy vậy, điều này không chắc chắn sẽ có ý nghĩa trong bối cảnh lấy hợp tác làm mục tiêu chính của khu vực. Các vụ kiện tụng có thể khiến mục tiêu hợp tác nhằm cải thiện quá trình thực hiện quy định và thúc đẩy hợp nhất các quy định gặp bất lợi.
Do đó, một tổ hợp nhiều thể chế khác nhau cho vấn đề pháp lýlà cần thiết hơn nhiều so với những cách tiếp cận thông thường trong các hiệp định thương mại. Các nhà đàm phán hiệp định TTIP cần phải hiểu rằng đàm phán về các vấn đề pháp lý và đàm phán về các vấn đề thương mại truyền thống trên cơ bản là khác biệt.
Theo http://www.cato.org - TV
Từ khóa: Phân loại, các rào cản thương mại, quy định trong, Hiệp định TTIP
Các tin khác
- Đánh giá nền kinh tế trước hội nhập - 02/10/2015
- Chiến lược hội nhập kinh tế quốc tế ngành NNPTNT - 02/10/2015
- Việt Nam - Cuba đẩy nhanh đàm phán Hiệp định Thương mại mới - 02/10/2015
- Từ 1-10, thực hiện Quy tắc xuất xứ trong AANZFTA - 30/09/2015
- Hiệp định FTA và Trung Quốc “đè” nặng doanh nghiệp ngành thép - 30/09/2015






















