
1. Tổng quan quy định của Ấn Độ về điều tra trợ cấp và áp dụng các biện pháp đối kháng
Pháp luật chống trợ cấp và các biện pháp đối kháng của Ấn Độ về cơ bản được xây dựng dựa trên Hiệp định trợ cấp và các biện pháp đối kháng của WTO, quy định tại Mục 9, của Luật Thuế Hải quan năm 1975 và Luật chống trợ cấp năm 1995 (Identification, Assessment and Collection of Countervailing duty and for Determination of Injury Rules, 1995).
Theo quy định của Luật chống trợ cấp Ấn Độ, trợ cấp được coi là tồn tại khi:
a) Có sự đóng góp về tài chính của chính phủ, hoặc bất kỳ cơ quan hữu quan nào trên lãnh thổ của nước xuất khẩu, gồm có:
(i) Chính phủ trực tiếp chuyển các khoản vốn (như cấp phát, cho vay, góp vốn cổ phần);
(ii) Các khoản thu phải nộp cho chính phủ đã được bỏ qua hoặc không thu (như ưu đãi tài chính, miễn giảm thuế thu nhập);
(iii) Chính phủ cung cấp hàng hóa hay dịch vụ không phải là cơ sở hạ tầng chung hoặc ưu đãi giá.
b) Một khoản trợ cấp của chính phủ hoặc duy trì bất kỳ hình thức ưu đãi thu nhập hay hỗ trợ giá gây ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến các hoạt động xuất khẩu của các đơn vị trên lãnh thổ của nước xuất khẩu.
Biện pháp chống trợ cấp (hay còn gọi là biện pháp đối kháng) được áp dụng khi:
(a) Khoản trợ cấp nêu trên mang tính riêng biệt;
(b) Trợ cấp liên quan đến hoạt động xuất khẩu;
(c) Trợ cấp liên quan đến việc khuyến khích sử dụng hàng hóa trong nước hơn so với hàng hóa nhập khẩu tại các đơn vị xuất khẩu; hoặc
(d) Khoản trợ cấp được cấp cho một số lượng hạn chế các nhà sản xuất hay nhà xuất khẩu.
Hiện nay, Bộ Thương mại và Công nghiệp Ấn Độ đã ban hành tài liệu hướng dẫn và bản câu hỏi trợ cấp dành cho doanh nghiệp/ngành sản xuất trong nước khi nộp hồ sơ yêu cầu điều tra chống trợ cấp. Khi nhận được đơn yêu cầu của ngành sản xuất trong nước phù hợp với Điều 6, Cơ quan điều tra sẽ khởi xướng điều tra để xác định có hay không tồn tại trợ cấp, mức độ và tác động của bất kỳ khoản trợ cấp bị cáo buộc liên quan đến hàng hóa nhập khẩu, trừ quy định tại khoản (4) Điều 6. Ngành sản xuất trong nước cần có đầy đủ bằng chứng chứng minh tư cách đứng đơn của người nộp đơn yêu cầu, đây là một điều kiện bắt buộc để Cơ quan điều tra có thể thực hiện việc khởi xướng điều tra. Cơ quan điều tra sẽ kiểm tra tính chính xác và đầy đủ của các bằng chứng được cung cấp trong đơn yêu cầu theo Điều 6 (3) (b) và người nộp đơn cần cung cấp đủ bằng chứng về trợ cấp, thiệt hại và mối quan hệ nhân quả giữa hàng nhập khẩu được trợ cấp và thiệt hại bị cáo buộc để Cơ quan điều tra tiến hành khởi xướng điều tra vụ việc.
2. Hệ thống các thông tin cần chuẩn bị để khởi xướng điều tra trợ cấp của Ấn Độ
(a) Các thông tin chung
Các nhà sản xuất trong nước hoặc đại diện của ngành sản xuất trong nước (gọi tắt là Bên nguyên đơn) của Ấn Độ muốn yêu cầu điều tra và áp dụng biện pháp chống trợ cấp cần phải cung cấp đầy đủ các thông tin như sau:
(i) Thông tin về sản phẩm nhập khẩu muốn điều tra;
(ii) Thông tin về ngành sản xuất trong nước và thị trường nội địa;
(iii) Bằng chứng về hàng nhập khẩu được nhận trợ cấp;
(iv) Bằng chứng về thiệt hại; và
(v) Mối quan hệ nhân quả giữa hàng nhập khẩu được trợ cấp và thiệt hại của ngành sản xuất trong nước.
Các nguồn thông tin, dữ liệu phải do người nộp đơn xác nhận và gửi bằng bản cứng (hard-copy) và bản mềm sử dụng phần mềm MS-Word/MS Excel. Bên nguyên đơn cần có các thông tin và dữ liệu liên quan đến giai đoạn điều tra (POI) và 3 năm tài chính trước đó và cơ quan Ấn Độ khuyến cáo không nên có khoảng trống thông tin giữa các khoảng thời gian nhưng có thể có sự trùng lặp về thông tin giữa POI và năm tài chính trước đó. Các dữ liệu của 3 năm tài chính trước đó sẽ được sử dụng cho phân tích xu hướng nhằm xác định thiệt hại. Thông tin được cung cấp trong đơn yêu cầu được sử dụng để chứng minh có trợ cấp, thiệt hại và mối quan hệ nhân quả giữa hàng nhập khẩu được trợ cấp và thiệt hại của ngành sản xuất trong nước được coi là bằng chứng theo quy định tại Điều 6 (2) của Luật chống trợ cấp 1995.
Điều 8 Luật Chống trợ cấp Ấn Độ cho phép các bên liên quan được yêu cầu bảo mật thông tin khi cung cấp thông tin, dữ liệu cho Cơ quan điều tra. Bất kỳ thông tin được yêu cầu bảo mật (ví dụ thông tin mang ý nghĩa lợi thế cạnh tranh hoặc nếu bị tiết lộ sẽ có ảnh hưởng bất lợi đáng kể đến người cung cấp thông tin hoặc người đã mua các thông tin đó) cần phải nêu lý do cụ thể. Bằng chứng liên quan đến giá xuất khẩu, chi phí, lợi nhuận, các điều chỉnh giá thông thường đều được Cơ quan điều tra bảo mật. Nếu thông tin cần bảo mật theo các khía cạnh khác, không giống với các tiêu chí nêu trên, người nộp đơn cần cung cấp một giải thích ngắn gọn về lý do tại sao thông tin đó cần được bảo mật. Trường hợp thông tin được yêu cầu bảo mật mà người nộp đơn không đưa ra bất kỳ lý do nào để khẳng định thông tin là mật, Cơ quan điều tra có thể bỏ qua những thông tin như vậy.
Tất cả các tài liệu, ý kiến bình luận, bản đệ trình hay văn bản được thực hiện trên cơ sở mật cần phải được cung cấp kèm theo một bản tóm tắt không mật. Các bản tóm tắt nên có đầy đủ các chi tiết để cho phép các bên liên quan khác có thể hiểu về các thông tin được bảo mật một cách hợp lý. Trường hợp một thông tin mật không thể chuyển thành dạng thông tin tóm tắt, cần phải có một sự giải thích tại sao thông tin đó không thể chuyển thành thông tin tóm tắt được.
Đơn yêu cầu cần được nộp thành 2 bản sao cùng với 1 bản lưu hành công khai. Tuy nhiên Cơ quan điều tra có thể yêu cầu bổ sung thêm các bản sao trước khi khởi xướng điều tra hoặc vào bất kỳ thời gian nào trong suốt quá trình điều tra vụ việc. Cơ quan điều tra có thể cung cấp bất kỳ thông tin không mật của người nộp đơn (hoặc bất kỳ bên liên quan nào) cho các bên liên quan khác theo quy định của Luật chống trợ cấp.
Cơ quan điều tra Ấn Độ yêu cầu Người nộp đơn nên cân nhắc đến khoảng thời gian để cung cấp thông tin như trong giai đoạn điều tra được xem xét. Hiện giai đoạn lựa chọn để cung cấp thông tin tốt nhất là 12 tháng tương đương theo 4 quý của năm tài chính hoặc có thể nhiều hơn. Đây là khoảng thời gian gần nhất và tương ứng với kỳ kế toán của ngành sản xuất trong nước. Tất cả các thông tin, trừ các quy định khác, nên được cung cấp theo khoảng thời gian này.
b) Thông tin về hàng hóa nhập khẩu bị yêu cầu điều tra
Hàng hóa được trợ cấp bị cáo buộc phải được mô tả chi tiết, bao gồm cả thông tin về kích thước sản phẩm, chất lượng, chủng loại, công dụng cùng với các thông số kỹ thuật được áp dụng hoặc tiêu chuẩn quy định (quốc gia hoặc quốc tế) và mã phân loại ITC (HS), phân loại hải quan, thuế hải quan, chính sách nhập khẩu (bao gồm cả các quy định về cấp phép).
Bên cạnh đó, nguyên đơn cần khai báo đầy đủ các thông tin sau:
- Nước xuất xứ của hàng hóa được trợ cấp bị cáo buộc,
- Thời gian khi hàng hóa được trợ cấp từ các quốc gia có tên nêu trên được nhập khẩu vào Ấn Độ
- Hàng hóa được trợ cấp nhập khẩu vào Ấn Độ thông qua nước thứ ba.
- Khối lượng, giá trị và đơn giá bình quân của hàng hóa được trợ cấp (theo giá CIF) nhập khẩu vào Ấn Độ từ mỗi quốc gia bị cáo buộc trong vòng 3 năm qua và năm hiện tại cho đến nay và nêu nguồn gốc thông tin cung cấp.
- Khối lượng, giá trị và đơn giá bình quân của hàng hóa (theo giá CIF) nhập khẩu từ các quốc gia khác không bị cáo buộc là trợ cấp hàng hóa, trong vòng 3 năm qua và năm hiện tại cho đến nay và nêu nguồn gốc thông tin cung cấp.
- Tên và địa chỉ của các nhà xuất khẩu và nhà sản xuất của hàng hóa được trợ cấp bị cáo buộc, các nhà nhập khẩu nhập khẩu hàng hóa được trợ cấp tại Ấn Độ, người sử dụng hàng hóa được trợ cấp bị cáo buộc tại Ấn Độ, và Hiệp hội những người sử dụng hàng hóa được trợ cấp bị cáo buộc tại Ấn Độ.
Số liệu về khối lượng và giá trị của hàng hóa nhập khẩu có thể được xác minh theo nguồn trích dẫn, như Tổng cục Thương mại và Thống kê (DGCI&S), danh mục hải quan và/hoặc thông tin sẵn có khác. Thông tin phải được trích dẫn nguồn cụ thể khi nộp đơn yêu cầu.
c) Thông tin về ngành sản xuất trong nước của Ấn Độ
Các nhà sản xuất của Ấn Độ cần phải thu thập và cung cấp các thông tin về ngành sản xuất Ấn Độ sản xuất hàng hóa bị điều tra, gồm các thông tin sau:
- Các thông tin để nhận dạng doanh nghiệp, nhà sản xuất trong nước ủng hộ, phản đối hay im lặng (tên, địa chỉ liên lạc, văn phòng tại New Delhi,...)
- Tình hình sản xuất (khối lượng và giá trị) của hàng hóa bị điều tra trong suốt 2 năm trước đó và năm hiện tại.
- khả năng thay thế của hàng hóa do doanh nghiệp sản xuất và hàng hóa bị điều tra không hay sự khác biệt về quy trình sản xuất sản phẩm của nhà sản xuất trong nước và nhà xuất khẩu
- Tình trạng bất kỳ nhà sản xuất nào đã nhập khẩu hàng hóa bị điều tra trong 2 năm trước đó và năm hiện tại cho đến nay; hay liệu có bất kỳ nhà sản xuất nào có mối quan hệ với nhà xuất khẩu hoặc nhà nhập khẩu của hàng hóa nhập khẩu nhận trợ cấp.
d) Bằng chứng về trợ cấp
Bên nguyên đơn cần cung cấp đầy đủ thông tin để chứng minh sự tồn tại, bản chất và khối lượng trợ cấp của hàng hóa nhập khẩu bị điều tra, gồm các thông tin sau:
- Thông tin về cơ quan cung cấp khoản trợ cấp, cụ thể:
(i) chính phủ hoặc cơ quan trung ương hoặc cấp tỉnh;
(ii) cơ quan công làm việc trong lãnh thổ của quốc gia liên quan; và (iii) tổ chức cá nhân có chức năng cung cấp trợ cấp theo quy định tại Điều 9 Luật Thuế hải quan và Luật chống trợ cấp.
- Nêu rõ bản chất, hình thức của các khoản trợ cấp bị cáo buộc thuộc loại nào trong các loại được quy định sau đây:
(i) chuyển trực tiếp từ các quỹ như các khoản tài trợ, cho vay và góp vốn cổ phần;
(ii) chuyển trực tiếp hoặc nhận nợ như bảo lãnh khoản vay;
(iii) miễn giảm khoản thu ngân sách hoặc không thu đối với các ưu đãi tài chính, như miễn thuế;
(iv) cung cấp hàng hóa, dịch vụ khác ngoài cơ sở hạ tầng;
(v) mua hàng với mức giá cao hơn giá thị trường;
(vi) hỗ trợ về lợi nhuận hoặc hỗ trợ về giá;
(vii) bất kỳ khoản giải ngân nào liên quan đến hoạt động xuất khẩu;
(viii) bất kỳ khoản giải ngân nào chỉ dành cho hàng hóa sản xuất so với hàng hóa nhập khẩu của doanh nghiệp xuất khẩu.
Cơ quan điều tra Ấn Độ cũng khuyến cáo các nhà sản xuất trong nước để hội đủ điều kiện về đóng góp tài chính như là trợ cấp bởi bất kỳ cơ quan công nào nêu trên, cần tham khảo Điều 11 Luật chống trợ cấp và lợi ích nhận được của bên nhận trợ cấp. Trong trường hợp trợ cấp được cung cấp theo luật hay quy định, bên nguyên đơn cần cung cấp bản sao các văn bản đó hoặc bất kỳ bằng chứng khác có giá trị tương đương. Nếu trợ cấp được giới hạn cho các doanh nghiệp nhất định và/hoặc chủ yếu một số doanh nghiệp nhất định và/hoặc cấp số tiền quá lớn cho một số doanh nghiệp nhất định và/hoặc cách thức cơ quan công cung cấp khoản trợ cấp riêng biệt (tham khảo Phụ lục II Luật chống trợ cấp), cung cấp các thông tin chi tiết để xác định trợ cấp.
Phương pháp tính toán mức trợ cấp
Mức trợ cấp của các chương trình bị cáo buộc nêu trên được tính toán như sau theo Điều 12 của Luật chống trợ cấp:
- Chính phủ góp vốn cổ phần, được coi là khoản trợ cấp khi quyết định đầu tư có thể được coi là không phù hợp với việc đầu tư thông thường (bao gồm cả việc chấp nhận vốn rủi ro của nhà đầu tư tư nhân trong lãnh thổ của nước xuất khẩu.
- Các khoản cho vay của chính phủ được coi là trợ cấp khi có sự khác biệt giữa số tiền phải trả mà công ty nhận khoản cho vay của chính phủ với số tiền phải trả theo điều kiện thương mại thông thường. Trường hợp này có sự khác biệt giữa 2 khoản phải trả nêu trên.
- Khoản bảo đảm tiền vay của chính phủ được coi là trợ cấp khi có sự khác biệt giữa số tiền công ty nhận bảo lãnh phải trả cho khoản vay mà chính phủ bảo lãnh với số tiền công ty sẽ trả theo khoản vay thương mại có thể so sánh. Trường hợp này, trợ cấp là sự khác biệt giữa 2 số tiền nêu trên.
- Chính phủ cung cấp hàng hóa hoặc dịch vụ được coi là trợ cấp khi việc cung cấp này ở mức giá thấp hơn so với mức giá thương mại thông thường.
- Chính phủ mua hàng hóa được coi là trợ cấp khi mua hàng hóa với mức giá cao hơn so với mức giá thương mại thông thường.
e) Bằng chứng về thiệt hại
Các nhà sản xuất phải cung cấp đầy đủ thông tin về cách thức nhập khẩu hàng hóa được trợ cấp là nguyên nhân gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại cho ngành sản xuất nội địa Ấn Độ hoặc ngăn cản quá trình hình thành ngành sản xuất nội địa Ấn Độ. Thông tin theo được yêu cầu cung cấp theo mẫu Phụ lục IV-A và IV-B, cụ thể như sau:
- Các thay đổi về thị phần của các nhà sản xuất Ấn Độ
- Sự gia tăng nhập khẩu từ các quốc gia bị cáo buộc
- Suy giảm đáng kể về sản xuất của người nộp đơn
- Suy giảm đáng kể về công suất sản xuất của ngành công nghiệp Ấn Độ
- Suy giảm đáng kể về lượng bán hàng của người nộp đơn
- Giá bán (bằng chứng về giảm giá, ép giá hoặc kìm giá)
- Bằng chứng về suy giảm doanh số bán hàng
- Việc làm (số lao động bị mất việc làm do hàng nhập khẩu nhận trợ cấp gây ra)
- Lợi nhuận (các mức lợi nhuận của người nộp đơn và của ngành công nghiệp trong thời gian qua)
Thông tin chi tiết cùng các bằng chứng về thiệt hại nên bao gồm tất cả các yếu tố kinh tế có liên quan đã nêu tại đoạn 1(5) của Phụ lục I – Luật chống trợ cấp. Cơ quan điều tra sẽ phân tích tác động của hàng nhập khẩu nhận trợ cấp đến ngành sản xuất trong nước, đánh giá tất cả các yếu tố kinh tế và các chỉ số liên quan đến mối quan hệ với cơ quan công của ngành sản xuất trong nước, bao gồm cả suy giảm thực tế và tiềm năng về sản lượng, doanh thu, thị phần, lợi nhuận, năng suất, hệ số hoàn vốn đầu tư, hoặc công suất sử dụng, các yếu tố ảnh hưởng đến giá trong nước; tác động tiêu cực về thực tế và tiềm năng đến dòng tiền, tồn kho, việc làm, tiền lương, tăng trưởng, khả năng huy động vốn đầu tư, và đối với lĩnh vực nông nghiệp liệu có việc gia tăng chi tiêu bắt buộc trong chương trình hỗ trợ của chính phủ hay không.
Các dữ liệu có liên quan đến năng suất, lợi nhuận trên vốn đầu tư, mức độ quan trọng của tỷ lệ trợ cấp, tác động tiêu cực của dòng tiền, tồn kho, tiền lương, tăng trưởng, khả năng huy động vốn đầu tư cần phải được chuẩn bị đầy đủ để chứng minh thiệt hại với tất cả các chỉ số được nêu tại Phụ lục I – Luật chống trợ cấp nêu trên.
f) Thông tin về mối quan hệ nhân quả
Bên cạnh việc cung cấp thông tin, bằng chứng chứng minh thiệt hại, Nguyên đơn sẽ phảicung cấp thêm các thông tin về các nhân tố gây thiệt hại cho ngành sản xuất trong nước ngoài nguyên nhân do hàng nhập khẩu được trợ cấp của nước xuất khẩu bị cáo buộc, gồm các thông tin như sau:
- Khối lượng và giá trị nhập khẩu từ các nước xuất khẩu khác không bị cáo buộc và giải thích lý do tại sao hàng nhập khẩu từ các nước này lại không gây thiệt hại cho ngành sản xuất nội địa,
- Lượng cầu sản phẩm trong 3 năm qua và trong POI. Trong trường hợp cầu sản phẩm có những thay đổi đáng kể thì cần giải thích tại sao cầu sản phẩm thay đổi lại không gây thiệt hại cho ngành sản xuất trong nước,
- Sự tồn tại phân biệt đối xử về cạnh tranh giữa nhà sản xuất trong nước và nhà sản xuất nước ngoài hay không, sự phát triển công nghệ, hoạt động xuất khẩu và năng suất của ngành sản xuất trong nước hoặc các yếu tố khác không gây thiệt hại cho ngành sản xuất trong nước.
g) Thông tin về chi phí sản xuất của doanh nghiệp trong nước
Các nhà sản xuất nộp đơn cũng phải gửi tất cả các thông tin liên quan đến chi phí sản xuất của doanh nghiệp như quy trình sản xuất, nguyên vật liệu và tiêu thụ nguyên liệu trong đóng gói và bản đối chiếu tài khoản, Định mức tiêu hao nguyên vật liệu và so sánh với thực tế, . Vốn lưu động, khấu hao trong giai đoạn điều tra và 3 năm trước đó, Lợi nhuận, Doanh thu bán hàng. Doanh nghiệp cũng cần cung cấp các Báo cáo kế toán đã kiểm toán trong giai đoạn điều tra và 3 năm trước đó, và báo cáo cân đối kế toán trong giai đoạn điều tra, Báo cáo lưu chuyển tiền mặt của 3 năm trước đó và giai đoạn điều tra.
Tất cả các thông tin cung cấp, trừ khi có quy định khác, phải thuộc POI và căn cứ trên báo cáo kế toán đã kiểm toán và hồ sơ bổ sung của doanh nghiệp. Tất cả các thông tin liên quan đều phải được xác minh, do đó, các tài liệu hỗ trợ, bao gồm cả các bảng chấm công, sẽ do Cơ quan điều tra tiến hành thẩm tra.
Mặc dù pháp luật về điều tra và áp dụng các biện pháp đối kháng của Việt Nam ra đời từ năm 2005 nhưng cho đến nay vẫn chưa thực thi trên thực tế. Tuy nhiên, việc nghiên cứu các thông tin và hướng dẫn của các nước trên thế giới có thể giúp cơ quan điều tra Việt Nam rút ra được những bài học về điều tra chống trợ cấp.
Nguồn: Cục quản lý cạnh tranh – BCT
Từ khóa: Bộ Thương mại và Công nghiệp, Ấn Độ, ban hành, hướng dẫn, hồ sơ, yêu cầu điều tra chống trợ cấp, áp dụng, biện pháp đối kháng
Các tin khác
- Brazil áp thuế chống bán phá giá butyl methacrylate nhập khẩu từ Đài Loan - 15/04/2015
- Tôm lại tắc đường sang Mỹ vì kháng sinh - 13/04/2015
- Ấn Độ chấm dứt biện pháp tự vệ với thép không gỉ Việt Nam - 09/04/2015
- USDA thắt chặt các quy định đối với cá tra Việt Nam - 30/03/2015
- Phương thức trọng tài trong giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế tại Việt Nam - 12/03/2015






















