Để đáp ứng yêu cầu khắt khe từ 5 thị trường lớn như Hoa Kỳ, Đức, Pháp, Canada, Nhật Bản, ngoài việc nâng cao chất lượng sản phẩm, ngành cà phê cần chú trọng đến khâu truy xuất nguồn gốc, nâng cao năng lực sản xuất.

Cà phê là một trong những đồ uống được tiêu thụ rộng rãi nhất trên thế giới. Theo Tổ chức Cà phê Thế giới (ICO), niên vụ 2020/21, khoảng 167,3 triệu bao (60 kg) cà phê được tiêu thụ trên toàn cầu, tăng so với 164,1 triệu bao niên vụ 2019/2020.
Còn theo báo cáo nghiên cứu thị trường, giai đoạn 2021 – 2025, thị trường cà phê toàn cầu tăng trưởng bình quân 7,6%. Các yếu tố thúc đẩy thị trường cà phê phát triển như gia tăng dân số tiêu thụ cà phê ngoài gia đình, đô thị hóa nhanh chóng, tăng doanh số bán lẻ thương mại điện tử, tăng thu nhập thế hệ Z, tăng sở thích cà phê hòa tan, nhu cầu ngày càng tăng đối với cà phê đặc sản và tăng tiêu thụ cà phê nhân ở các nền kinh tế mới nổi dự kiến sẽ thúc đẩy thị trường.
Năm 2021, nhập khẩu cà phê của 5 thị trường hàng đầu thế giới tăng. Theo số liệu thống kê từ Trung tâm thương mại quốc tế (ITC), nhập khẩu cà phê của các thị trường Hoa Kỳ, Đức, Pháp giảm từ Việt Nam; Ý tăng nhẹ; Canada tăng 44,9%. Nhìn chung, thị phần cà phê của Việt Nam trong tổng trị giá nhập khẩu của các thị trường Hoa Kỳ, Đức, Pháp, Canada vẫn ở mức thấp.
Cụ thể, năm 2021, thị phần cà phê của Việt Nam trong tổng nhập khẩu của Hoa Kỳ chiếm 4,02%; Đức chiếm 9,37%; Pháp chiếm 1,24%; Canada chiếm 1,29% và Nhật Bản chiếm 14,38%.
Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công Thương) nhận định, năm 2022, Việt Nam còn nhiều dư địa để tăng xuất khẩu sang các thị trường trên. Để đáp ứng yêu cầu khắt khe từ các thị trường, ngoài việc nâng cao chất lượng sản phẩm, ngành cà phê cần chú trọng đến khâu truy xuất nguồn gốc, nâng cao năng lực sản xuất. Cơ cấu xuất khẩu cà phê của Việt Nam có sự thay đổi, giảm xuất khẩu cà phê nhân thô, đẩy mạnh khâu chế biến và xuất khẩu cà phê rang xay, hòa tan. Hoạt động xúc tiến thương mại tiếp tục được chú trọng, giúp quảng bá và kết nối sản phẩm cà phê của Việt Nam ra thị trường thế giới.
Theo Trung tâm Thương mại Quốc tế (ITC), trong các tháng năm 2021, nhập khẩu cao su của hầu hết các thị trường lớn đều tăng so với cùng kỳ năm 2020. Trong đó tăng mạnh nhất là các thị trường như: Malaysia, Ấn Độ, Thổ Nhĩ Kỳ, Brazil, Nhật Bản, Mỹ ...
Điều đáng chú ý là nhập khẩu cao su từ Việt Nam của 10 thị trường nhập khẩu lớn nhất đều tăng rất mạnh về trị giá so với cùng kỳ năm 2020.
Cụ thể, 11 tháng năm 2021, Trung Quốc là thị trường nhập khẩu cao su lớn nhất thế giới, với 11,35 tỷ USD, tăng 16,2% so với cùng kỳ năm 2020. Trong đó, Trung Quốc nhập khẩu cao su từ Việt Nam đạt 2 tỷ USD, tăng 32,2% so với cùng kỳ năm 2020. Thị phần cao su Việt Nam chiếm 17,7% trong tổng trị giá nhập khẩu cao su của Trung Quốc trong 11 tháng năm 2021, tăng so với mức 15,5% của cùng kỳ năm 2020.
11 tháng năm 2021, Mỹ nhập khẩu cao su trị giá 4,192 tỷ USD, nhập khẩu từ Việt Nam đạt 76,4 triệu USD, tăng 130,6%.
Trong 11 tháng năm 2021, nhập khẩu cao su của Ấn Độ đạt 1,93 tỷ USD, tăng 47,7% so với cùng kỳ năm 2020. Trong đó, Ấn Độ nhập khẩu cao su từ Việt Nam đạt 204,6 triệu USD, tăng 137,5% so với cùng kỳ năm 2020. Thị phần cao su Việt Nam chiếm 9,4% trong tổng trị giá nhập khẩu cao su của Ấn Độ trong 11 tháng năm 2021, tăng so với mức 6,9% của cùng kỳ năm 2020.
Tại các thị trường còn lại trong Top 10, nhập khẩu cao su từ Việt Nam có mức tăng từ 40,7-98,5% về trị giá trong các tháng của năm 2021.
Số liệu thống kê cho thấy, trị giá xuất khẩu cà phê của Việt Nam sang khu vực châu Á tăng 22,8%. Tỷ trọng xuất khẩu cà phê của Việt Nam sang khu vực châu Á tăng từ 38,02% trong năm 2020 lên 41,54% trong năm 2021.
Năm 2021, trị giá xuất khẩu cà phê của Việt Nam sang hầu hết các khu vực tăng so với năm 2020, ngoại trừ châu Đại Dương. Số liệu thống kê cho thấy, trị giá xuất khẩu cà phê của Việt Nam sang khu vực châu Á tăng 22,8%.
Tỷ trọng xuất khẩu cà phê của Việt Nam sang khu vực châu Á tăng từ 38,02% trong năm 2020 lên 41,54% trong năm 2021. Tốc độ xuất khẩu cà phê sang châu Âu tăng 6,5%, tuy nhiên tỷ trọng xuất khẩu giảm từ 44,56% trong năm 2020 xuống 42,24% trong năm 2021.
Năm 2021, trị giá xuất khẩu hầu hết các chủng loại cà phê tăng so với năm 2020, ngoại trừ cà phê Excelsa giảm 14,4%. Cơ cấu chủng loại có sự chuyển dịch, tốc độ xuất khẩu cà phê Arabica tăng 19,9%, tỷ trọng xuất khẩu tăng từ 5,25% năm 2020 lên 5,62% năm 2021. Tuy nhiên, cà phê Robusta vẫn là chủng loại xuất khẩu chủ yếu, tỷ trọng chiếm 75,12% trong năm 2021, trị giá 2,32 tỷ USD.
Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công Thương) cho biết, xuất khẩu cà phê của Việt Nam tháng 12/2021 đạt 130 nghìn tấn, trị giá 305 triệu USD, tăng 21% về lượng và tăng 26,2% về trị giá so với tháng 11/2021, so với tháng 12/2020 giảm 6,5% về lượng, nhưng tăng 20,3% về trị giá. Tính chung cả năm 2021, xuất khẩu cà phê của Việt Nam đạt 1,52 triệu tấn, trị giá xấp xỉ 3 tỷ USD, giảm 2,7% về lượng, nhưng tăng 9,4% về trị giá so năm 2020.
Theo ước tính, giá xuất khẩu bình quân cà phê của Việt Nam đạt mức 2.344 USD/tấn – mức cao nhất kể từ tháng 6/2017, tăng 4,3% so với tháng 11/2021 và tăng 28,7% so với tháng 12/2020. Tính chung cả năm 2021, giá xuất khẩu bình quân cà phê của Việt Nam ước đạt mức 1.969 USD/tấn, tăng 12,4% so với năm 2020.
Dự báo xuất khẩu cà phê của Việt Nam trong năm 2022 sẽ tiếp tục khả quan nhờ nguồn cung dồi dào, các FTA tạo lợi thế cạnh tranh cho cà phê Việt Nam và giá xuất khẩu nhiều khả năng duy trì ở mức cao. Theo Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ (USDA), niên vụ 2021/2022, sản lượng cà phê của Việt Nam dự báo đạt 31,1 triệu bao, nhờ điều kiện thời tiết thuận lợi đã hỗ trợ năng suất.
Để đáp ứng yêu cầu khắt khe từ các thị trường, ngoài việc nâng cao chất lượng sản phẩm, ngành cà phê Việt Nam cần chú trọng đến khâu truy xuất nguồn gốc, nâng cao năng lực sản xuất. Cơ cấu xuất khẩu cà phê của Việt Nam có sự thay đổi, giảm xuất khẩu cà phê nhân thô, đẩy mạnh khâu chế biến và xuất khẩu cà phê rang xay, hòa tan. Hoạt động xúc tiến thương mại tiếp tục được chú trọng, giúp quảng bá và kết nối sản phẩm cà phê của Việt Nam ra thị trường thế giới.
Nguồn: Doanh nghiệp Hội nhập
Từ khóa: năng suất, quảng bá, kết nối sản xuất, USDA






















