6 tháng đầu năm 2021, với kết quả tăng trưởng dương 17% so với nửa đầu năm 2020, thể hiện sự cố gắng nỗ lực của các doanh nghiệp xuất khẩu cá tra trong bối cảnh nền kinh tế thế giới chưa phục hồi, tiêu thụ tại thị trường nước ngoài chưa nhiều biến chuyển. Tuy nhiên, chưa kịp mừng đã vội lo khi ngành hàng này đang gặp khó ở cả đầu sản xuất cũng như thị trường xuất khẩu.
Cơ cấu gạo xuất khẩu của Việt Nam tiếp tục chuyển dịch sang các loại gạo thơm, gạo chất lượng cao với giá bán và giá trị gia tăng cao hơn.
Mặc dù là thị trường chưa đầy 6 triệu dân nhưng việc vải thiều Việt Nam vào được thị trường khá khó tính này đã mở ra một lối đi mới cho nông sản Việt.
Với thu nhập cao, xu hướng ẩm thực ngày càng chú trọng thành phần rau, quả của người tiêu dùng Hoa Kỳ, cùng với đó hệ thống phân phối đa dạng, nhiều cấp, Hoa Kỳ được đánh giá là thị trường nhập khẩu tiềm năng với trái cây Việt Nam.
Tình hình dịch bệnh phức tạp, đặc biệt tại các trung tâm kinh tế lớn như TP.HCM, Bình Dương, Đồng Nai… là thách thức cho các DN dệt may, da giày xuất khẩu trên chặng đường về đích năm 2021.
Việc sản lượng mía trong nước liên tục sụt giảm và bị mía đường Thái Lan lấn át, có lỗi rất lớn từ chính ngành mía đường. Thế nhưng, ngành này lại không nhìn ra bản chất thật sự của hành động phá giá. Như vậy, không thể đổ lỗi cho ai mà lỗi chính là chúng ta không thể tự bảo vệ mình.
Hiện nay, tôm Việt Nam đang đứng vị trí số 1 tại hầu hết các thị trường, với kim ngạch vượt trội các quốc gia khác.
Nếu trước đây, tỷ lệ xuất thô của nông sản Việt Nam lên tới 90% thì nay đã giảm xuống còn khoảng 60%. Song, điều này vẫn là chưa đủ để nâng cao vị trí thương hiệu của nông sản Việt trên thị trường thế giới. Theo đó, chất lượng và chế biến sâu sẽ là con đường mà ngành nông nghiệp cần phải đẩy mạnh, trước hết để tận dụng cơ hội khi thị trường phục hồi sau dịch COVID-19.
Theo thống kê từ Tổng cục Hải quan, lượng xuất khẩu viên nén của Việt Nam năm 2020 đạt khoảng 3,2 triệu tấn, lớn thứ 2 thế giới. Gần 100% lượng viên nén từ Việt Nam được xuất khẩu sang Nhật Bản và Hàn Quốc...
Tỷ lệ nội địa hoá nguyên liệu, vật tư, linh kiện của Trung Quốc khoảng 70%, của Thái Lan 60% và của Việt Nam là 37%. Như vậy, có thể thấy doanh nghiệp tại Việt Nam phụ thuộc vào việc nhập khẩu trên 60%. Đây là nguyên nhân dẫn đến gia tăng chi phí và rủi ro lớn đối với lĩnh vực chế tạo...
Trang 52 trong 173 trang