Các phong trào dân túy cánh hữu đã đạt được tầm ảnh hưởng đáng kể trên khắp châu Âu trong những năm gần đây, định hình lại bản đồ chính trị và thách thức các chuẩn mực đã được thiết lập. Những chế độ này tác động đáng kể đến các chính sách và chiến lược kinh tế, nhưng liệu họ có chia sẻ quan điểm chung về kinh tế?

Để hiểu cách chủ nghĩa dân túy cánh hữu - thường được đặc trưng bởi ngôn từ dân tộc chủ nghĩa, chính sách chống nhập cư và khuynh hướng bảo hộ - có thể nhìn nhận toàn bộ hệ thống kinh tế, điều quan trọng là phải hiểu nguồn gốc chính trị.
Trong diễn ngôn chính trị hiện nay, thuật ngữ dân túy ngay lập tức báo hiệu xu hướng chống lại hệ thống. Và nếu như hệ thống được hiểu là các nền dân chủ nghị viện tự do của châu Âu, thì theo định nghĩa, lập luận dân túy phải chỉ trích trật tự hiện tại.
Giáo sư Branislav Slantchev thuộc Đại học California San Diego tóm lược trên Euronews: "Chủ nghĩa dân túy luôn đặt 'nhân dân' đối đầu với một nhóm 'tinh hoa' mơ hồ và do đó có thể sử dụng tất cả các loại ý tưởng kinh tế tùy thuộc vào cách định nghĩa việc bất bình đẳng hoặc 'kẻ thù'. Điều này có nghĩa là không là không có một dạng quốc tế dân túy nào có chiến lược kinh tế liên kết."
Các phong trào dân túy phát triển mạnh khi chống lại các chính sách tự do
Tuy nhiên, trong bối cảnh Tây Âu ở thế kỷ 21, việc có chung kẻ thù về nền kinh tế thị trường tự do, trợ cấp phúc lợi, hệ thống nhập cư nhằm thu hút lao động nước ngoài và dân chủ tự do cho thấy các phong trào dân túy riêng biệt nhưng tương tự nhau, những phong trào này chống lại hiện trạng. Như Slantchev nói: "Chủ nghĩa dân túy về nguyên tắc là hoàn toàn chống đối với các chính sách tự do, do đó mô hình tăng trưởng kinh tế sẽ phản ánh điều đó."
Ở Châu Âu thời hậu cộng sản, nơi các chế độ dân túy đã bén rễ ở một số nơi như Hungary hay Serbia, kẻ thù chung khác biệt với kẻ thù ở các nền dân chủ và kinh tế phát triển của phần phía tây lục địa. Đorđe Trikoš, chuyên gia tư vấn truyền thông chiến lược và đồng sáng lập tổ chức tư duy "Libek", giải thích với Euronews rằng "các nền kinh tế chưa được cải cách, hậu xã hội chủ nghĩa, làm cho chủ nghĩa dân túy ở các quốc gia này dễ xảy ra hơn, và bản thân chủ nghĩa dân túy sẽ khó có thể tồn tại lâu dài với sự tự do hóa kinh tế".
Do đó, một giải thích chung cho sự thành công của các phong trào dân túy ở Đông Âu hậu cộng sản có thể do các cải cách kinh tế tự do còn dang dở, những cải cách này đã bị phá hoại dưới thời chính quyền tự do hoặc dân chủ xã hội đi trước các đối thủ theo đường lối dân túy của họ.
Nếu chúng ta xem xét kỹ hơn một số chế độ dân túy lâu dài ở châu Âu thời hậu cộng sản, một vài điểm chung sẽ xuất hiện. Hungary của Orban và Serbia của Vučić đều có nền kinh tế mở, định hướng mạnh vào việc thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài, đồng thời xây dựng một trật tự chính trị - xã hội theo nghĩa thân hữu để duy trì sự cai trị.
András Tóth-Czifra, Nghiên cứu viên Chương trình Âu Á tại Viện Nghiên cứu Chính sách Đối ngoại, cung cấp cho Euronews một lời giải thích chi tiết về hệ thống kinh tế của Hungary dưới sự cai trị của dân túy: "Các chính sách của chính phủ, mặc dù chúng chắc chắn đã tạo ra tăng trưởng kinh tế trong 14 năm qua nếu nhìn vào các số liệu GDP, nhưng về lâu dài đã hạn chế triển vọng kinh tế của Hungary. Đây là tăng trưởng kinh tế dựa trên lao động giá rẻ, năng lượng giá rẻ, sự suy giảm quyền lợi của người lao động và một số ít dự án đầu tư định hướng xuất khẩu lớn, thường nhận được sự hỗ trợ chính trị, thay vì dựa vào các ngành công nghiệp tri thức và tiêu dùng nội địa."
Nếu so sánh tuyên bố trước đó với tuyên bố của Trikoš về mô hình kinh tế Serbia hiện tại, một mô hình rõ ràng sẽ xuất hiện: "Nền kinh tế Serbia dựa trên việc tìm kiếm lợi nhuận, các công việc được trợ cấp mà không có nhiều phát triển hữu cơ và các dự án đầu tư phô trương thể hiện sức mạnh nhưng không mang lại giá trị thực sự cho xã hội."
Hungary và Serbia đi ngược lại xu hướng dân túy
Cả Hungary và Serbia đều có được tăng trưởng kinh tế ổn định, mặc dù không đáng kể, dưới thời kỳ cầm quyền của các nhà lãnh đạo theo đường lối dân túy và không áp dụng mô hình bảo hộ thương mại theo như dự đoán. Giáo sư Dušan Pavlović thuộc Đại học Belgrade nhấn mạnh điểm này với Euronews trong trường hợp của Serbia: "Quốc gia này đang tận hưởng tăng trưởng ổn định, lạm phát được kiểm soát và tài chính công cân bằng, với thâm hụt ngân sách chỉ chiếm 2,2% GDP và nợ công dưới 60% GDP. Hơn nữa, mối quan hệ của Serbia với IMF, có khả năng sẽ được kéo dài sau tháng 9 năm 2024, nhấn mạnh sự ổn định vĩ mô."
Điều này chắc chắn khác biệt với các phong trào dân túy ở Tây Âu, vốn thường thích các biện pháp bảo hộ mậu dịch, ít nhất là ở một mức độ nhất định. Mặt khác, các chế độ dân túy ở Hungary và Serbia đã thất bại trong việc chuyển đổi tăng trưởng kinh tế thành nâng cao mức sống cho đại đa số công dân, vì bản thân tăng trưởng này dựa trên mô hình hỗn hợp giữa trợ cấp của chính phủ cho các nhà đầu tư nước ngoài và tước quyền của lực lượng lao động địa phương.
Một trong những yếu tố góp phần kìm hãm tăng trưởng kinh tế dưới sự cai trị của dân túy là tham nhũng có hệ thống, đây là sản phẩm cố ý của việc xây dựng hệ thống lòng trung thành chính trị thông qua việc cung cấp lợi ích kinh tế hoặc vị trí thị trường thuận lợi cho các nhà tư bản tận tụy với chế độ.
Tóth-Czifra đặt vấn đề này vào bối cảnh của Hungary: "Một trong những mục tiêu được tuyên bố của chính phủ Orban là tạo ra một tầng lớp tư bản trong nước; mục tiêu này đã đạt được, theo một cách nào đó, bằng cách làm giàu cho các doanh nhân có quan hệ chính trị thông qua các đơn đặt hàng của nhà nước và quỹ của EU, cũng như bằng cách tham gia vào các thỏa thuận đầu tư nước ngoài do chính phủ tạo điều kiện."
Trikoš đưa ra đánh giá rằng: "tham nhũng hệ thống là lời giải thích chính cho sức mạnh của chủ nghĩa dân túy ở Serbia", trong khi Pavlović nói thêm rằng: "Người đương nhiệm Serbia dường như đã tìm ra một công thức thân hữu để chấp nhận một mức độ tham nhũng nhất định miễn là nó không cản trở tiến bộ kinh tế."
Thổ Nhĩ Kỳ hưởng lợi từ sự thay đổi chính sách
So sánh dữ liệu về kết quả kinh tế của chế độ dân túy ở Hungary và Serbia với trường hợp của Thổ Nhĩ Kỳ, có thể rút ra kết luận về việc liệu một chế độ dân túy có luôn phải tuân theo một chiến lược kinh tế nhất quán hay không. Timothy Ash, Nghiên cứu viên Cộng tác trong chương trình về Nga và Á-Âu tại Chatham House, nhấn mạnh với Euronews về thực tế rằng chế độ dân túy của Erdogan đã có sự thay đổi cơ bản trong chính sách ngân hàng trung ương lãi suất thấp trước đây, vốn mang tính ý thức hệ: "Đảo ngược 180 độ kể từ các cuộc bầu cử tháng 5 năm ngoái và hiện nay là xu hướng chính sách tốt hơn ở Thổ Nhĩ Kỳ - quay trở lại với chính thống."
Đây là một tuyên bố quan trọng, vì nó cho thấy các chế độ dân túy xây dựng mô hình kinh tế và tài chính dựa trên sự cần thiết nếu khủng hoảng kinh tế đe dọa đến sự ổn định chính trị, điều này trong một số trường hợp có thể mâu thuẫn với chính đường lối chính trị của họ. Nói như vậy, các chế độ dân túy cánh hữu có xu hướng tạo ra các cấu trúc kinh tế xã hội tham nhũng và thân hữu, nhằm kéo dài thời gian cầm quyền vô thời hạn, ngay cả khi không phá bỏ cả những quy tắc cơ bản của hệ thống dân chủ và nền kinh tế thị trường tự do.
Nhìn chung, trong khi các chế độ dân túy về mặt ý thức hệ chống lại nền dân chủ tự do, thì chúng không bị buộc phải thực hiện các chiến lược kinh tế bảo hộ. Tuy nhiên, tất cả các chế độ dân túy đều định hình mô hình kinh tế và chính trị của họ theo cách kích thích tham nhũng quy mô lớn và cuối cùng tước quyền của những người dân mà những kẻ theo chủ nghĩa dân túy lên nắm quyền để bảo vệ họ khỏi giới tinh hoa, được cho là độc ác.
Hơn nữa, tăng trưởng kinh tế dài hạn có thể bị ảnh hưởng tiêu cực bởi các chính sách do những kẻ theo chủ nghĩa dân túy đưa ra, vì chúng hạn chế sự đa dạng hóa, đổi mới và doanh nghiệp tự do, đặc biệt là trong lĩnh vực doanh nghiệp vừa và nhỏ.
Nguồn: Euronews
Từ khóa: châu Âu, chủ nghĩa dân túy, chính sách phát triển






















