JSN_TPLFW_TOGGLE_MENU
Phân tích bình luậnHội nhập kinh tế quốc tếViệt Nam gia nhập điện tử toàn cầu

Việt Nam gia nhập điện tử toàn cầu

AMSUNG ELEC SMARTPHONES VIETNAM 400x228

Việt Nam hiện đang được hưởng lợi từ chính sách đóng cửa COVID-19 của Trung Quốc và căng thẳng địa chính trị giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc - đặc biệt là trong lĩnh vực sản xuất điện tử. Trước đó, Việt Nam cũng áp dụng chính sách không COVID-19 và có các đợt đóng cửa vào năm 2021, tuy nhiên đất nước đã thay đổi chính sách khi 2/3 dân số được tiêm chủng vào tháng 12/2021.

Nguồn tin cho biết Apple sẽ chuyển việc sản xuất iPad từ Trung Quốc sang Việt Nam vào tháng 6 năm 2022. Xiaomi của Trung Quốc cũng chuyển việc sản xuất một số thiết bị của mình sang Việt Nam vào tháng 6 năm 2021 nhờ khoản đầu tư của DBG Technology, một công ty con của Hong Kong’s DBG Electronics Investment Limited.

Samsung, tập đoàn đã gia nhập sớm vào Việt Nam, đầu tư vào một nhà máy sản xuất trị giá 670 triệu USD ở tỉnh Bắc Ninh vào năm 2014. Tập đoàn này đã tăng đầu tư lên 17,3 tỷ USD trên toàn quốc trong vòng hơn một thập kỷ. Intel, tập đoàn tiên phong khác, đã mở một cơ sở lắp ráp và kiểm tra chất bán dẫn trị giá 1 tỷ USD tại Thành phố Hồ Chí Minh vào năm 2006. Và đã đầu tư thêm vào năm 2019 và 2020, nâng tổng số vốn đầu tư lên 1,5 tỷ USD. Tất cả những khoản Đầu tư Trực tiếp Nước ngoài (FDI) này đã cho thấy một hiện thực rằng "Chiến tranh thương mại Mỹ - Trung kết thúc và Việt Nam là người chiến thắng".

Từ năm 2010 đến năm 2020, xuất khẩu hàng điện tử, máy tính và linh kiện từ Việt Nam tăng trưởng trung bình hàng năm đạt 28,6%, mức tăng trưởng hai con số ngay cả trong những năm trước khi xảy ra căng thẳng thương mại Mỹ - Trung và các đợt đóng cửa COVID-19. Đây chủ yếu là kết quả của những cải cách trong nước vào giữa những năm 2000, cụ thể là Luật Doanh nghiệp năm 2005 và Luật Đầu tư năm 2000.

Các quy định được thực hiện đầy đủ vào năm 2015, cho phép các công ty nước ngoài mua lại phần lớn cổ phần trong các doanh nghiệp trong nước. Điều này cho phép Việt Nam tham gia vào thương mại linh kiện và phụ tùng toàn cầu do các tập đoàn nước ngoài trong các mạng lưới sản xuất không còn quan tâm đến việc liên doanh với các doanh nghiệp trong nước. Họ muốn trở thành chủ sở hữu trong việc kiểm soát chất lượng và đảm bảo giao hàng kịp thời.

Chi phí kinh doanh tại các thành phố của Việt Nam đã được hạ thấp đáng kể vào giữa những năm 2000, khiến Việt Nam có khả năng cạnh tranh trong khu vực. FDI tăng trưởng nhanh chóng và được hưởng siêu lợi nhuận bởi cái gọi là chiến lược Trung Quốc cộng 1 mà các công ty đa quốc gia theo đuổi, đặc biệt là trong lĩnh vực điện tử.

Là một nước xuất khẩu hàng điện tử, Việt Nam đã tăng từ vị trí thứ 47 trong năm 2001, lên vị trí thứ 10 vào năm 2020 với giá trị xuất khẩu chiếm 1,8% trong tổng giá trị xuất khẩu hàng điện tử toàn cầu. Câu hỏi đặt ra là liệu sự tăng trưởng nhanh chóng này có bền vững trong điều kiện lợi thế so sánh đang phát triển của Việt Nam và liệu Việt Nam có thể giành được vị thế là một trung tâm sản xuất toàn cầu trong lĩnh vực điện tử hay không.

Chi phí nhân công thấp là một lợi thế rõ ràng của Hà Nội. Chi phí lao động sản xuất theo giờ ở Trung Quốc và Việt Nam tăng cao trong giai đoạn từ 2016 - 2020, nhưng ở Việt Nam tăng chậm hơn. Năm 2020, chi phí lao động sản xuất của Việt Nam bằng khoảng một nửa so với Trung Quốc. Giá điện thương mại ở Thành phố Hồ Chí Minh thấp hơn 0,3 US cent so với Thượng Hải, trong khi thời gian để có được kết nối điện nhanh hơn một ngày đối với các công ty và hộ gia đình.

Các cải cách hành chính khác bao gồm nâng cao hiệu quả khai thuế và giảm thuế suất tổng thể xuống 2%. Loại thuế quan trọng duy nhất đối với các tập đoàn công nghệ cao của nước ngoài là Thuế thu nhập doanh nghiệp, thấp hơn 5–7% so với ở Trung Quốc. Các tập đoàn này cũng được miễn thuế doanh nghiệp tới bốn năm.

Chính phủ Việt Nam đã chủ động, với thành công rõ ràng trong việc thúc đẩy đầu tư nước ngoài vào lĩnh vực sản xuất điện tử và đưa Việt Nam vào mạng lưới sản xuất toàn cầu. Nhưng đề trở thành một trung tâm sản xuất công nghệ cao thì còn có các vấn đề dài hạn cần phải được giải quyết.

Phần lớn ngành sản xuất điện tử ở Việt Nam hiện nay tập trung vào các hoạt động trung gian trong chuỗi cung ứng, như lắp ráp thành phẩm xuất khẩu của các tập đoàn nước ngoài. Các hoạt động thượng nguồn như thiết kế sản phẩm và sản xuất thành phần phụ diễn ra ở các quốc gia khác. Hoa Kỳ và Hàn Quốc thường hoàn thiện thiết kế sản phẩm, trong khi Trung Quốc sản xuất thành phần phụ. Các hoạt động hạ nguồn như bán hàng và phân phối cũng diễn ra ở nước ngoài.

Điều này giải thích tại sao giá trị gia tăng của Việt Nam trong lĩnh vực sản xuất xuất khẩu trung bình chỉ là 55%. Trong trường hợp một thành phần đáng kể của hàng điện tử xuất khẩu không phải trong nước, các doanh nghiệp Việt Nam không thể tận dụng tối đa các hiệp định thương mại tự do như Hiệp định thương mại tự do EU - Việt Nam được ký kết vào năm 2019.

Để nâng cao chuỗi giá trị, Việt Nam cần khẩn trương nâng cao trình độ lao động. Đáp ứng khả năng cung cấp cho các công ty nước ngoài nguồn lao động có tay nghề cao mà họ cần để mở rộng sản xuất. Khi đó có thể sản xuất các linh kiện điện tử trong nước, chuyên môn cũng được phát triển và nâng cao để đáp ứng với các thiết kế và thiết bị mới mà các công ty 'mẹ' đưa ra thị trường.

Khoảng trống chuyên môn hiện đang được lấp đầy bởi những chuyên gia và một số Việt kiều trở về từ nước ngoài. Một số nhà sản xuất linh kiện nhỏ của Hàn Quốc đang chuyển sang Việt Nam để cung cấp cho Samsung. Nhưng biện pháp ngắn hạn này không thể thay thế cho quá trình giáo dục và đào tạo.

Nhu cầu nâng cao kỹ năng được chính phủ Việt Nam ghi nhận trong Chiến lược Phát triển Kinh tế và Xã hội 2021–2030. Nhưng hiện nay các bước thực hiện và mục tiêu định lượng vẫn còn chậm. Trong khi thời gian đi học trung bình của Việt Nam là 10,2 năm - chỉ đứng sau Singapore trong ASEAN - tỷ lệ nhập học bậc đại học của Việt Nam là 28,6% vào năm 2019.

Ước tính trong số khoảng 6,9 triệu người ở độ tuổi học đại học ở Việt Nam, chỉ có dưới hai triệu người đang theo học đại học. Con số này cần phải tăng gấp đôi lên 3,8 triệu để Việt Nam có thể đứng cùng hạng với các nước có thu nhập trung bình cao khác trong vòng 15-20 năm tới. Với nhân khẩu học thuận lợi của Việt Nam được dự báo sẽ kết thúc vào năm 2040, không có thời gian để lãng phí trong việc nâng cao trình độ dân số.

Nguồn: East Asia Forum

Từ khóa: thượng nguồn, hạ nguồn, chuỗi giá trị, trình độ lao động, FDI

Phân tích - Bình luận

JSN_TPLFW_TOGGLE_MENU

Thư viện hội nhập

thu vien


phong ve thuong mai

Video

Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field
Field

Liên kết

 

Lượt truy cập

008789398
Go to top